CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP TIẾN TỚI ĐẠI HỘI TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG

Những “sứ giả” văn hóa giữa đại ngàn

Thứ sáu - 01/11/2019 14:50
(QT) - Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, mỗi người mỗi việc nhưng họ được xem là những “sứ giả” luôn đi đầu, dấn thân với niềm đam mê văn hóa, con chữ của dân tộc mình. Từ đam mê, tâm huyết với vốn văn hóa quý báu ấy, ngày ngày những “sứ giả này” âm thầm truyền lại cho cộng đồng và thế hệ mai sau.
Ông Kray Sức (người ôm đàn) được xem là “Nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Pa Kô” với vốn tri thức hiểu biết sâu sắc của mình​
Ông Kray Sức (người ôm đàn) được xem là “Nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Pa Kô” với vốn tri thức hiểu biết sâu sắc của mình​

“Nhà nghiên cứu văn hóa Pa Kô” Kray Sức

 

Gần 15 năm (từ 2004 đến nay) làm cán bộ chuyên trách văn hóa xã Tà Rụt, huyện Đakrông, Kray Sức (55 tuổi) đã băng rừng, lội suối để sưu tầm, ghi chép, biên soạn hàng chục kịch bản múa cồng chiêng, nghi thức lễ hội, phong tục, tập quán, các làn điệu dân ca dân tộc Pa Kô. Ngoài ra, Kray Sức cùng với các nghệ nhân cao tuổi của xã Tà Rụt còn trực tiếp truyền dạy cho hàng chục học viên trẻ của các xã A Bung, A Ngo, A Vao, Tà Rụt đánh cồng chiêng, đàn Âmpreh, Ta Lư, thồi kèn cũng như hát các làn điệu dân ca Pa Kô. Chính những nỗ lực của Kray Sức cùng nhiều nghệ nhân cao tuổi xã Tà Rụt đã “tiếp sức” làm lan tỏa việc lưu giữ, bảo tồn văn hóa vốn làm nên hồn cốt của dân tộc Pa Kô có lúc tưởng chừng như mai một. Bên cạnh đó, ông cũng đã sưu tầm được khoảng 100 cồng, chiêng và các loại nhạc cụ truyền thống như: Trống Toong, sáo Khui, khèn Bè…
 

Hiện nay, Kray Sức vẫn thường xuyên đến các bản làng trong xã gặp các nghệ nhân để sưu tầm, ghi chép các làn điệu Pa Kô. Không chỉ ghi chép, sưu tầm mà Kray Sức còn sáng tác, xây dựng nhiều kịch bản múa cồng chiêng, các tiểu phẩm lồng ghép dân ca Pa Kô. Điển hình như kịch bản múa cồng chiêng: “Ngày hội đoàn kết”, “Hội mùa”, “Lễ hội đâm trâu”, “Pa lư kloc Đung”... Ông cũng đã ghi chép thành văn bản các phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc Pa Kô như “Tục xem chân gà”, “Kho thóc với đồng bào dân tộc Pa Kô”, “Peeng azưh trong hôn nhân”, “Đồng bào Pa Kô thờ hồn sống”; hoàn chỉnh hồ sơ sưu tầm, tìm hiểu nguồn gốc tộc người Pa Kô; thực hiện đề án “Chỉ dẫn cho người Pa Kô đọc và viết ngôn ngữ của dân tộc mình”. Song song đó, ông cũng viết kịch bản và dàn dựng các tiểu phẩm nổi bật như: “Tìm hiểu Nghị quyết 30a”; tiểu phẩm tuyên truyền về an toàn giao thông “Ba lần quên”; tiểu phẩm về xây dựng làng văn hóa - gia đình văn hóa “Cây bưởi ông nội”; sáng tác các bài dân ca như: “Lời nhắn gửi con cháu” theo làn điệu Cha Chấp; “Akay pân tưi” theo làn điệu Kăn Aun; “Mong trăng mãi” theo làn điệu Xiêng; “Tiếng ve trên đầu núi” theo nhịp Toong trên chòi; “Tiếng gọi già làng” theo làn điệu Kà Lơi - Cha Chấp; “Đoàn kết” theo làn điệu Lân lin… Nội dung trong những sáng tác, tiểu phẩm hay các bài dân ca của Kray Sức xoay quanh chủ đề ngợi ca cuộc sống vui tươi, tạ ơn trời đất đã ban cho mùa màng bội thu, tình yêu đôi lứa. Với sự miệt mài âm thầm sưu tầm kì công, lưu giữ và truyền dạy vốn văn hóa đặc sắc của dân tộc mình hàng chục năm qua, có thể nói Kray Sức đã nắm giữ tương đối trọn vẹn “kho tàng văn hóa bản địa” của dân tộc Pa Kô.

 

Tuy vậy, có một điều mà ông vẫn luôn trăn trở và canh cánh lâu nay là làm thế nào để hiện thực hóa việc dạy chữ viết Pa Kô - Tà Ôi cho đồng bào dân tộc Pa Kô, nhất là học sinh các cấp học. Kray Sức giải bày: “Với mong muốn đó nên tôi đã viết đề án “Chỉ dẫn cho người Pa Kô đọc và viết ngôn ngữ của dân tộc mình”. Mong rằng, trong thời gian tới các ngành chức năng tỉnh Quảng Trị sẽ lưu tâm đến việc đưa “Sách học tiếng Pa Kô - Tà Ôi” vào giảng dạy cho con em đồng bào dân tộc Pa Kô, ít nhất cũng bắt đầu dạy cho bậc Tiểu học…Và một khi đồng bào dân tộc Pa Kô đọc và viết thành thạo ngôn ngữ dân tộc mình thì việc giữ gìn, bảo tồn văn hóa của cha ông sẽ được bền vững hơn”.

 

Nữ trưởng thôn tâm huyết với bản làng

 

Dù mới chỉ nắm giữ chức vụ trưởng thôn Cu Pua, xã Đakrông, huyện Đakrông 2 năm nay, nhưng những dấu ấn mà nữ trưởng thôn Hồ Thị Mộc (38 tuổi), để lại rất đáng ghi nhận. Trẻ trung, năng động và giàu nhiệt huyết là những gì chị Mộc để lại ấn tượng cho những người có dịp tiếp xúc. Ngoài chức vụ trưởng thôn, hiện chị Mộc còn đảm nhiệm thêm vai trò của một bí thư chi bộ, cộng tác viên dân số, y tế thôn bản, tổ trưởng tổ vay vốn thôn… “Trăm đầu việc như thế nhưng tôi đều luôn cố gắng hoàn thành tốt công việc được giao. Mình còn trẻ, có điều kiện góp công sức, trí tuệ cho bản làng thì phải cố gắng hết sức. Chứng kiến bản làng ngày càng đổi mới tích cực, đời sống của người dân được cải thiện là mình cảm thấy hạnh phúc lắm rồi”, chị Mộc tâm sự.

 

Nữ trưởng thôn Cu Pua Hồ Thị Mộc cống hiến tâm sức để xây dựng bản làng ngày càng giàu đẹp, văn minh​

 

Chị Mộc cho biết, thôn Cu Pua có 81 hộ dân với 331 nhân khẩu, trong đó có 80 hộ dân là người dân tộc Vân Kiều. “Đại đa số đời sống người dân trong thôn đều phụ thuộc vào nương rẫy và một số mô hình chăn nuôi, trồng trọt nhỏ lẻ. Tuy nhiên, thời gian gần đây cũng có một số hộ dân ở sát Quốc lộ 9 buôn bán, làm thêm các dịch vụ nên đời sống cũng đỡ vất vả hơn nhiều”, chị Mộc cho biết. Tuy cuộc sống của người dân đã được cải thiện hơn nhiều năm trước đây nhưng hiện toàn thôn Cu Pua vẫn còn 34 hộ nghèo. Để giải bài toán thoát nghèo cho các hộ dân, chị Mộc cùng với các đoàn thể thôn tích cực làm cầu nối, vận động, khuyến khích người dân mạnh dạn phát triển kinh tế bằng những mô hình trồng trọt, chăn nuôi phù hợp, có hiệu quả kinh tế… Đặc biệt, vài năm qua chị Mộc cùng với Hội LHPN xã, Chi hội Phụ nữ thôn đã tích cực vận động các hội viên tham gia và thành lập tổ hợp tác làm chổi đót thôn Cu Pua với hàng chục chị em phụ nữ tham gia. Từ những khó khăn ban đầu, đến nay tổ hợp tác đã đi vào hoạt động hiệu quả. Chổi đót Cu Pua đã được khách hàng gần xa ưa chuộng và tiêu thụ nhiều ở chợ Đông Hà (Quảng Trị) và chợ Đông Ba (Huế)… qua đó tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho hơn 30 chị em phụ nữ ở thôn. Mô hình tổ hợp tác chổi đót đã góp phần khôi phục nghề truyền thống làm chổi đót của địa phương. Vì thế chị em ở thôn Cu Pua ngoài thời gian lên rẫy có thêm nghề chổi đót ổn định, qua đó giúp chị em tự tin, mạnh dạn hơn trong giao tiếp, biết cách làm ăn, buôn bán.

 

Thôn Cu Pua có 90% người dân theo đạo nên việc vận động người dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước gặp thuận lợi. “Vì theo đạo nên có nếp sống khá giản dị, thực hiện nghiêm túc xây dựng đời sống văn hóa, ví dụ như: Đám cưới không uống rượu bia, không hút thuốc; việc ma chay cũng được làm đơn giản hơn; các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan cũng được đẩy lùi. Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn được giữ vững. Đây cũng là điểm giúp bản thân tôi thuận lợi hơn trong công tác tuyên truyền, vận động người dân trong xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh và xây dựng nông thôn mới…”, chị Mộc cho biết thêm.

 

Với những đóng góp đầy trách nhiệm, nhiệt huyết trong công tác xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở thôn Cu Pua, những năm qua chị Hồ Thị Mộc đã được huyện, xã nhiều lần tuyên dương, khen thưởng.

 

Miệt mài truyền dạy chữ Bru- Vân Kiều

 

Năm nay gần 75 tuổi nhưng người thầy giáo già người dân tộc Vân Kiều Hồ Xuân Long (nguyên là Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú huyện Hướng Hóa) vẫn miệt mài truyền dạy chữ Bru- Vân Kiều cho hàng trăm cán bộ, người dân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Trong căn nhà nhỏ ở khóm 3B, thị trấn Khe Sanh, ngày qua ngày ông Hồ Xuân Long đam mê nghiên cứu, điều chỉnh giáo án dạy chữ Bru-Vân Kiều ngày càng hoàn thiện hơn. Lật giở những tập giáo án dạy chữ Bru-Vân Kiều, thầy Long cho biết, ngôn ngữ Bru -Vân Kiều là ngôn ngữ chính của người dân tộc Vân Kiều mang họ Bác Hồ ở hai huyện miền núi Hướng Hoá và Đakrông gần 70 năm nay. Dân tộc Vân Kiều từ xa xưa chỉ có tiếng nói riêng mà không có chữ viết. Thầy Long kể, sau Cách mạng tháng Tám thành công, ủy ban Dân tộc Trung ương đã rà soát lại các dân tộc trong cả nước và nhận thấy rằng ở tỉnh Bình Trị Thiên cũ có tộc người Bru không có chữ viết nên thống nhất lấy tên tộc danh người Bru là Bru-Vân Kiều, lấy họ Hồ của Bác Hồ làm họ của mình- với mục đích thuận lợi hơn trong việc mở rộng giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế giữa các vùng miền, nhất là trong việc ghi lại họ tên của người dân trong các văn bản, giấy tờ liên quan. Đến năm 1982, Ủy ban Dân tộc tỉnh Bình Trị Thiên cũ đề nghị Viện Ngôn ngữ xây dựng phục chế chữ viết Bru - Vân Kiều do GS.TS Hoàng Tuệ - Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học làm chủ biên, từ đó người Bru - Vân kiều đã có chữ viết riêng của mình. Trong giai đoạn biên soạn cuốn sách chữ viết Bru - Vân kiều từ năm 1982 đến 1986, ông Hồ Xuân Long đã tham gia làm cộng tác viên về ngôn ngữ Bru-Vân Kiều nên được học kĩ về loại ngôn ngữ này. Ông Long cũng là người bản địa duy nhất đã từng tham gia biên soạn và xuất bản những cuốn sách về ngôn ngữ Bru - Vân Kiều.

 

Ông Hồ Xuân Long đau đáu với việc truyền dạy chữ Bru- Vân Kiều cho đồng bào mình, nhất là thế hệ trẻ​

 

Nhằm giúp cán bộ, công chức từ các vùng khác đến làm việc ở miền núi dễ dàng tiếp xúc với đồng bào để tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền đạt khoa học kĩ thuật, kinh nghiệm làm ăn cho đồng bào người bản địa nên từ năm 2006, Sở Nội vụ và Ủy ban dân tộc miền núi tỉnh Quảng Trị cho biên soạn lại giáo trình ngôn ngữ Bru - Vân Kiều, đến năm 2007 thì được xuất bản, đưa vào giảng dạy. Cũng từ đó đến nay, thầy giáo Long đã góp sức lực, trí tuệ của mình miệt mài truyền dạy từng con chữ Bru- Vân Kiều cho hàng trăm học viên trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Tuy là ngôn ngữ chính của dân tộc mình nhưng những người bản địa am hiểu chữ Bru-Vân Kiều chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Cũng chính vì những người còn am tường về ngôn ngữ Bru-Vân Kiều ngày càng ít dần và đều đã đến tuổi xế chiều nên hiện tại thầy giáo Hồ Văn Long luôn trăn trở làm thế nào để truyền dạy ngôn ngữ này cho càng nhiều người càng tốt. “Hiện tại ở Quảng Trị chỉ còn khoảng vài người có khả năng đọc và viết thành thạo loại chữ này và hầu hết họ đã già. Tôi và những người này hiện tại chỉ dạy tiếng Bru - Vân Kiều cho cán bộ nhà nước đang công tác tại địa bàn miền núi để thuận lợi trao đổi công việc mà thôi chứ để dạy cho đồng bào mình là rất khó vì không có đủ giáo viên cũng như kinh phí. Tôi ước mong rằng đến một lúc nào đó, tất cả mọi người dân tộc Vân Kiều đều có thể tự tay viết ra được chính con chữ của họ để khỏi thất truyền”, ông Long trăn trở.

 

Tác giả bài viết: Đức Việt

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Liên kết web
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây