CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP TIẾN TỚI ĐẠI HỘI TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào

Thứ năm - 24/10/2019 09:33
QĐND - LTS: Tọa đàm “70 năm nghĩa tình son sắt” do Báo Quân đội nhân dân phối hợp với Hội Truyền thống Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam (QTN&CGVN) tại Lào tổ chức ngày 23-10 để lại nhiều tình cảm và ấn tượng tốt đẹp với các đại biểu tham dự. Những trao đổi, chia sẻ của các nhà khoa học, nghiên cứu lịch sử, các đại biểu khẳng định sự đóng góp, hy sinh to lớn của QTN&CGVN với cách mạng Lào; khẳng định và làm sâu sắc thêm tình hữu nghị, đoàn kết đặc biệt giữa Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân hai nước. Báo Quân đội nhân dân trích đăng một số ý kiến tâm huyết tại tọa đàm.
PGS, TS NGUYỄN TRỌNG PHÚC
PGS, TS NGUYỄN TRỌNG PHÚC

PGS, TS NGUYỄN TRỌNG PHÚC, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Kiểu mẫu của ứng xử quốc tế trong thời đại mới

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi gặp gỡ các đồng chí Việt Nam sang giúp cách mạng Lào đã căn dặn “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”. Gặp các nhà lãnh đạo Lào Kaysone Phomvihane, Souphanouvong, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi quan hệ Việt Nam-Lào là “quan hệ đặc biệt”. Đó là quan hệ của chủ nghĩa quốc tế trong sáng, vô tư, thủy chung, giúp đỡ lẫn nhau, “Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.
 

Đỉnh cao của sự giúp đỡ lẫn nhau là hai đảng đã chỉ đạo phối hợp chiến trường hai nước. Sự giúp đỡ lẫn nhau mà hai đảng khởi xướng và kiên trì lãnh đạo đã trở thành một nhân tố bảo đảm thắng lợi của cách mạng hai nước. Ngày 30-4-1975, miền Nam được giải phóng, nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất. Ngày 2-12-1975, cách mạng Lào thắng lợi, ra đời nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Sau thắng lợi năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cùng với Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã phát triển quan hệ đặc biệt Việt-Lào lên tầm cao mới. Ngày 17-7-1977, Lào và Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác cùng Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước. Đó là cơ sở chính trị và pháp lý bảo đảm cho quan hệ hai quốc gia láng giềng phát triển hòa bình, hữu nghị, hợp tác bền vững.

Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam và Lào đều tiến hành công cuộc đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam càng đặc biệt chú trọng củng cố, phát triển quan hệ đặc biệt với Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào. Mối quan hệ đó được thử thách qua lịch sử càng phát triển bền vững. Việt Nam và Lào cùng xây dựng đất nước giàu mạnh, thịnh vượng theo con đường XHCN, vì hạnh phúc của nhân dân. Hai nước hợp tác chặt chẽ về quốc phòng, an ninh để bảo vệ thành quả cách mạng và độc lập, chủ quyền của mỗi nước. Phối hợp và ủng hộ nhau trong chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và phát triển tại các diễn đàn quốc tế và khu vực. Trao đổi kinh nghiệm về xây dựng Đảng, Nhà nước và nâng cao vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Quan hệ Lào-Việt Nam không chỉ đặc biệt mà còn là kiểu mẫu của ứng xử quốc tế trong thời đại mới.

-------------------

Trung tướng NGUYỄN QUỐC THƯỚC, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4: Sức mạnh to lớn của liên minh chiến đấu

Nhớ lại những ngày đầu cuộc kháng chiến, thực dân Pháp lợi dụng thế yếu của Lào mở hai mũi tấn công theo đường 8 và đường 9 nhằm hai mục đích: Đánh chiếm địa bàn Trung Lào, thọc sâu đánh chiếm địa bàn Quân khu 4 của Việt Nam. Nhận rõ ý đồ của địch, lãnh đạo Khu 4 lúc bấy giờ kịp thời huy động một lực lượng vượt Trường Sơn sang phối hợp với LLVT Lào ngăn chặn và tiêu hao, tiêu diệt địch ngay trên đất Lào, giữ thế cho căn cứ hậu phương bạn, đồng thời bảo vệ sườn phía tây của quân khu. Liên minh chiến đấu tự nhiên của LLVT hai bên manh nha từ đó.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Trung tướng NGUYỄN QUỐC THƯỚC.

Ngày 30-10-1949, tổ chức “Quân tình nguyện Việt Nam” ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu cuộc kháng chiến của hai dân tộc, theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình. Từ đây, cuộc kháng chiến của hai dân tộc bước sang một trang sử mới. Trên địa bàn Quân khu 4 nhiều tiểu đoàn lần lượt ra đời, vượt Trường Sơn sang sát cánh cùng các LLVT bạn, vừa dẫn dắt hướng dẫn lẫn nhau, vừa vận động nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp, vừa phối hợp chiến đấu ngày một hiệu quả. Liên quân Lào-Việt trên hướng Quân khu 4 ngày càng phát triển cùng với sự trưởng thành của quân đội hai bên, báo hiệu thắng lợi của cuộc kháng chiến trên hai chiến trường.

Sau hiệp định Geneva, thực dân Pháp tiếp tục mở các cuộc càn quét ra vùng căn cứ. Một lần nữa Quân khu 4 vừa chuẩn bị đối phó với kế hoạch “Bắc tiến” của Ngô Đình Diệm vừa đưa lực lượng sang cùng đơn vị bạn bảo vệ vùng căn cứ cách mạng trên hướng Khammouan, Borikhamxay và Samvara Khet, nhất là dọc đường 9, vừa bảo vệ vùng căn cứ của bạn vừa để mở hành lang chi viện cho chiến trường miền Nam. 13 năm chiến đấu ròng rã bên cạnh LLVT bạn, tình hình bạn mới thực sự ổn định.

Sau khi QTN Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình, nhưng nhiệm vụ phối hợp giúp bạn Lào theo phương thức mới theo quy định của hai nước vẫn tiếp tục. LLVT Quân khu 4 qua các giai đoạn lịch sử luôn có nhiều đóng góp giúp đất nước Lào ngày càng phát triển, quân đội Lào ngày càng hùng mạnh.

-------------------

PGS, TS PHẠM HỮU TIẾN, nguyên Viện trưởng Viện Thông tin khoa học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Giữ gìn, phát huy giá trị di sản quan hệ Việt-Lào

Sự ra đời và những đóng góp của QTN&CGVN tại Lào là biểu hiện sinh động của quan hệ Việt Nam-Lào. Ngày nay, nhân dân hai nước đang phải giải quyết những nhiệm vụ đặt ra cho đất nước mình, phù hợp với những thay đổi của thế giới, của khu vực cũng như đáp ứng nhu cầu, tiềm năng, khát vọng phát triển của mỗi nước. Những thành tựu của quan hệ Việt-Lào nói chung, những đóng góp của QTN&CGVN tại Lào nói riêng sẽ mãi mãi là di sản vô giá, đồng thời là động lực cho sự phát triển của hai đất nước, hai dân tộc.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
PGS, TS PHẠM HỮU TIẾN.

Một trong những vấn đề đặt ra từ quan hệ Việt-Lào nói chung và truyền thống của QTN&CGVN tại Lào nói riêng là làm gì để bảo tồn và phát huy di sản quý báu đó. Đây là việc hệ trọng, đòi hỏi có sự tham gia của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội, trực tiếp là những cán bộ, chiến sĩ cựu QTN&CGVN tại Lào.

Tôi cho rằng cần xây dựng và hoàn chỉnh bộ lịch sử QTN&CGVN tại Lào và trở thành một bộ phận trong bộ lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam. Xây dựng các tập sách, tập tư liệu ghi lại kỷ niệm của những người đã tham gia QTN&CGVN tại Lào tương tự như các tập sách ''Những kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội" đã được xuất bản trong những năm 60 của thế kỷ trước, có ảnh hưởng lớn đến thế hệ thanh niên lúc đó. Trong dịp kỷ niệm Ngày truyền thống QTN&CGVN tại Lào, các phương tiện thông tin đại chúng, trước hết là Báo Quân đội nhân dân dành một dung lượng tương ứng để tuyên truyền về sự kiện đặc biệt ý nghĩa này.

70 năm là khoảng thời gian ngắn trong lịch sử dân tộc, nhưng 70 năm là xấp xỉ một đời người. Những người tham gia QTN&CGVN tại Lào đến nay người còn, người mất và theo quy luật tự nhiên, số người này với tư cách là những nhân chứng sống sẽ ngày càng "vắng bóng". Vì vậy việc bảo tồn và phát huy di sản quan hệ Việt-Lào nói chung và truyền thống QTN&CGVN tại Lào nói riêng là một đòi hỏi vừa lâu dài, vừa cấp bách.

-------------------

Trung tướng VŨ VĂN KIỂU, Trưởng ban Liên lạc toàn quốc cựu QTN&CGVN tại Lào, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng: Giúp bạn giữ chính quyền cách mạng ở vùng Hạ Lào

Trung tuần tháng 10-1976, Sư đoàn 325 (Quân đoàn 2) được giao nhiệm vụ sang giúp bạn Lào truy quét phỉ và xây dựng chính quyền cơ sở ở vùng Hạ Lào. Mặc dù vừa trải qua những năm tháng chiến tranh gian khổ ác liệt, ai nấy đều muốn có thời gian nghỉ ngơi về thăm gia đình, quê hương sau nhiều năm xa cách, song nhiệm vụ đến lại lên đường.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Trung tướng VŨ VĂN KIỂU.

Bộ phận đi trước do đồng chí Nguyễn Đức Huy, Phó tư lệnh Sư đoàn 325 chỉ huy sang làm việc với quân khu của bạn ở Seno nắm tình hình và hiệp đồng tác chiến. Tiếp đoàn cán bộ của Sư đoàn 325 là đồng chí Văn Na, Tham mưu trưởng Quân khu Hạ Lào. Sau khi nghe đồng chí Tham mưu trưởng Quân khu của bạn thông báo tình hình, đồng chí Nguyễn Đức Huy nêu khái quát ý đồ của địch và nhiệm vụ của Sư đoàn 325 là chậm nhất trước ngày 30-11-1976 phải có mặt ở Seno. Nghe được tin này, đồng chí Văn Na rất vui, nhưng Quân khu Hạ Lào chưa nhận được thông báo từ Vientiane đón Sư đoàn 325. Vì vậy, về kế hoạch hoạt động giữa ta và bạn chưa hiệp đồng cụ thể được, nhưng Quân khu Hạ Lào vẫn cử một bộ phận cùng Sư đoàn 325 nghiên cứu địa hình thuộc Savannakhet và Pakxe.

Trở về nước, đoàn cán bộ Sư đoàn 325 báo cáo với thủ trưởng Quân đoàn 2 ý kiến của quân khu bạn, kết hợp tiến hành làm công tác chuẩn bị. Quân đoàn 2 tăng cường cho Sư đoàn 325: Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66, Sư đoàn 304), một tiểu đoàn công binh cầu phà, một đại đội xe bọc thép lội nước, Đội Điều trị 16 và một tiểu đoàn ô tô vận tải chở quân. Trong khoảng thời gian rất ngắn (3 ngày), chiều 1-12-1976, các đơn vị của Sư đoàn 325 đã có mặt ở các vị trí quan trọng từ Mường Phìn qua Seno đến Pakxe và chiều 2-12-1976 có mặt ở Savannakhet.

Sở chỉ huy Sư đoàn 325 đặt tại Seno, Trung đoàn 101 trải dọc đường 9 từ Seponh tới Seno. Trung đoàn 18 trải dọc trục lộ 13 từ Seno tới Pakxe. Lúc này, địch biết mình ở thế yếu, không thể thực hiện được ý đồ bạo loạn như kế hoạch đã định, phải rút về căn cứ vùng sâu của chúng. Việc Sư đoàn 325 của Việt Nam có mặt ở Savannakhet, đã làm sụp đổ mưu đồ bạo loạn, cướp chính quyền cách mạng vào ngày 2-12-1976 của bè lũ phản động tại Lào.

-------------------

Trung tướng NGUYỄN TIẾN LONG, Phó chủ tịch Trung ương Hội Hữu nghị Việt Nam-Lào, Phó chủ tịch Hội Truyền thống QTN&CGVN tại Lào, nguyên Phó tư lệnh về Chính trị Quân khu 3: Khẳng định sức mạnh của đoàn kết đặc biệt và liên minh chiến đấu

Nhận rõ tầm quan trọng của quan hệ đoàn kết giữa hai dân tộc, ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam và khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Lào ngày 23-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử đại diện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết lập quan hệ với Chính phủ Lào. Tháng 10-1945, Chính phủ hai nước ký Hiệp ước tương trợ Lào-Việt và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào-Việt, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt-Lào.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Trung tướng NGUYỄN TIẾN LONG.

Ngày 5-9-1962, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Tại cuộc hội đàm (tháng 7-1963), Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đề nghị Việt Nam tăng cường lực lượng chuyên gia giúp Lào toàn diện, từ chủ trương, chính sách đến tổ chức thực hiện; trong đó, về quân sự, giúp Lào thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản là xây dựng chính trị, tư tưởng, tổ chức đảng trong quân đội và củng cố, phát triển phong trào chiến tranh du kích. Đồng thời, các đơn vị Quân tình nguyện (QTN) Việt Nam phối hợp với Quân đội Pathet Lào mở nhiều chiến dịch, chủ yếu ở khu vực Đường 9-Trung Lào, Cánh đồng Chum-Xieng Khuang, đập tan các cuộc tấn công lấn chiếm của địch. Đặc biệt, đầu năm 1968, QTN Việt Nam phối hợp với quân giải phóng Lào giành thắng lợi ở Chiến dịch Nậm Bạc, giải phóng hoàn toàn khu vực Nậm Bạc-Khăm Đeng với hơn một vạn dân, nối liền vùng giải phóng Thượng Lào thành khu vực liên hoàn, tạo thế vững chắc cho hậu phương cách mạng Lào và hỗ trợ thiết thực cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và Campuchia. 

Cách mạng Lào phát triển đã hỗ trợ tích cực cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam Việt Nam (ngày 30-4-1975) và quân, dân Lào nổi dậy giành chính quyền, thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (tháng 12-1975) là thắng lợi to lớn của quan hệ đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu thủy chung, nghĩa tình son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào.

-------------------

Trung tướng LÊ PHÚC NGUYÊN, nguyên Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân: Báo chí quân đội cùng chung sứ mệnh vun đắp tình hữu nghị đặc biệt

Trong nhiều năm qua, được sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam và Quân đội nhân dân Lào, Báo QĐND hai nước đã cùng nhau hợp tác rất hiệu quả trong nhiều lĩnh vực, như: Trao đổi kinh nghiệm, bồi dưỡng nghiệp vụ cho phóng viên, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, cải thiện điều kiện làm việc...

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Trung tướng LÊ PHÚC NGUYÊN.

Rất tự hào và vui mừng là tình đoàn kết và sự giúp đỡ lẫn nhau giữa hai cơ quan báo chí quân đội đến hôm nay vẫn liên tục phát triển với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, thực chất, hiệu quả. Đặc biệt gần đây, Báo QĐND Việt Nam đã tổ chức xuất bản báo QĐND điện tử đa phương tiện bằng tiếng Lào. Đây là công cụ quan trọng để tiếp tục phát huy sức mạnh của báo chí hai quân đội trong thời gian tới.

Những năm tới, hợp tác giữa hai cơ quan báo chí quân đội Việt Nam-Lào cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa, trước hết là trong nội dung thông tin, tuyên truyền; phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền về mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước, hai quân đội và nhân dân hai nước. Đó là hoạt động ý nghĩa để thế hệ trẻ hai nước hôm nay và mai sau không bao giờ lãng quên lịch sử đáng tự hào về sự chung lưng đấu cật, chia ngọt sẻ bùi, cọng rau cắn nửa, hạt gạo sẻ đôi của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Việt Nam với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Lào anh em. Hôm nay là 70 năm, mai sau là 100 năm và mai sau nữa, không bao giờ chúng ta được phép lãng quên. Đó là viên ngọc quý, chúng ta phải cùng nhau mài thật sáng, hôm nay đã sáng rồi, nhiều năm sau phải sáng hơn.

Sức mạnh của báo chí và truyền thông trong nhiệm vụ này cần được sử dụng một cách hiệu quả nhất và đi đầu không ai khác, chính là hai cơ quan báo chí quân đội của chúng ta. Những câu chuyện đẹp đẽ, xúc động về sự gắn bó, đoàn kết, thủy chung, sự hy sinh xương máu vì vận mệnh chung của hai nước và mỗi nước cần được kể từ thế hệ này qua thế hệ khác cùng nghe, cùng nhớ, cùng trân trọng. Chúng ta phải làm thường xuyên trong mỗi bản tin, trong từng chuyên mục, trên mỗi trang báo, số báo bằng tiếng Việt và tiếng Lào; bằng tất cả các loại phương tiện, trên tất cả nền tảng truyền thông số mà chúng ta đang vận hành để sức lan tỏa của những câu chuyện đó ngày càng sâu rộng.

-------------------

Trung tướng NGUYỄN MẠNH ĐẨU, nguyên Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật, cựu Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào: Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào là một tất yếu lịch sử

Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc, kết hợp với tinh thần quốc tế cao cả. Từ ngày có Đảng Cộng sản Đông Dương, phát triển qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, tình đoàn kết liên minh chiến đấu giữa hai nước Việt Nam-Lào trở thành một tất yếu lịch sử.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Trung tướng NGUYỄN MẠNH ĐẨU.

Người đặt nền móng cho mối quan hệ đặc biệt đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong, Chủ tịch Kaysone Phomvihane. Các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, quân đội và nhân dân hai nước đã không ngừng dày công vun đắp.

Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Giúp bạn là mình tự giúp mình”, suốt mấy chục năm, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ QTN&CGVN đã vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, sát cánh chiến đấu cùng Quân đội nhân dân Lào giành từ thắng lời này đến thắng lợi khác. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chống bè lũ tay sai, đã có gần 460.000 lượt cán bộ, chiến sĩ Việt Nam tham gia chiến đấu trên chiến trường Lào. Trải qua chiến đấu, hàng vạn đồng chí đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp quốc tế, chống kẻ thù chung.

Nhân dân và bộ đội Lào đã có những hy sinh to lớn trong liên minh chiến đấu giúp cách mạng Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng, Nhà nước, nhân dân các bộ tộc Lào đã tạo mọi điều kiện cho Việt Nam xây dựng tuyến vận tải chiến lược Bắc-Nam. Tuyến vận tải đó đi qua 7 tỉnh của Lào dưới sự đánh phá ác liệt của địch trong nhiều năm. Biết bao người dân và bộ đội Lào đã đóng góp công sức và hy sinh xương máu vì sự nghiệp cách mạng của Việt Nam.

 Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nay trở lại đất nước Triệu Voi, kỷ niệm xưa và hiện thực nay quyện vào nhau trong tâm trí tôi. Điều cốt tủy đọng lại trong tôi là tấm lòng thủy chung, son sắt của các bạn Lào. Trải qua mấy chục năm, trong điều kiện có nhiều đổi thay trong phát triển, nhưng tình nghĩa giữa những người cùng chung chiến hào năm xưa vẫn nguyên vẹn đong đầy.

-------------------

Thiếu tướng HUỲNH ĐẮC HƯƠNG, Chủ tịch Hội Truyền thống Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào: "Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình"

Mối quan hệ Việt Nam-Lào là quy luật bất biến mang tính sống còn của hai dân tộc. Trong các giai đoạn cách mạng, sự lãnh đạo của Đảng ta, tư tưởng Hồ Chí Minh “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”, luôn định hướng cho tư duy khoa học quân sự và phương pháp cách mạng của QTN&CGVN làm nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra kẻ thù chung của hai dân tộc Việt-Lào. Vì vậy, dân tộc Việt Nam và các LLVT Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế phải liên hệ khăng khít với cách mạng Lào. Chiến đấu trên chiến trường Lào, trong các thời điểm, đối tượng tác chiến khác nhau, phải chủ động tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của đối phương. Tập trung hạn chế điểm mạnh, khoét sâu vào điểm yếu, làm cho địch bị động đối phó, tạo ra thời cơ, nắm lấy thời cơ thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc Lào.    

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Thiếu tướng HUỲNH ĐẮC HƯƠNG

Trước diễn biến phức tạp của tình hình, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng Việt Nam chỉ đạo QTN&CGVN, tranh thủ mọi thời cơ, điều kiện giúp Chính phủ cách mạng Lào nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội và LLVT yêu nước. Trọng tâm là bồi dưỡng năng lực tổ chức chỉ huy chiến đấu của cán bộ và kỹ chiến thuật của bộ đội. Kết hợp chặt chẽ xây dựng quân đội giải phóng nhân dân với phát triển LLVT địa phương. Xây dựng LLVT ba thứ quân gắn với củng cố, phát triển chính quyền cách mạng, phát huy thế mạnh của chiến tranh nhân dân, tạo nguồn lực cho cách mạng Lào phát triển vững chắc. Phối hợp với chiến trường miền nam Việt Nam, QTN và LLVT yêu nước Lào, chủ động tiến công địch trên cả 3 vùng chiến lược thượng, trung và hạ Lào, đánh bại nhiều đợt tấn công của địch, giữ vững vùng giải phóng căn cứ địa cách mạng. Đặc biệt là đối với nhiệm vụ phát triển tuyến vận tải tây Trường Sơn, chi viện cho chiến trường miền Nam Việt Nam. Khai thông tuyến hậu cần chiến lược tây Trường Sơn, đã mở ra điều kiện để cuộc chiến đấu của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam tiến nhanh hơn đến thắng lợi cuối cùng.

-------------------

Thiếu tướng BÙI MINH THỨ, Phó chủ tịch Hội Truyền thống QTN&CGVN tại Lào, nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô: Dấu ấn của những quyết định chiến lược giúp bạn Lào

Theo đề nghị của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, tháng 9-1959, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tư lệnh ra quyết định thành lập Đoàn 959 (Đoàn công tác miền Tây). Nhiệm vụ của đoàn là trực tiếp làm chuyên gia về quân sự cho Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao Quân đội Pathet Lào, tổ chức chi viện vật chất cho cách mạng Lào, trực tiếp chỉ huy các đơn vị bộ đội Việt Nam hoạt động ở khu vực Xam Neua, Xiengkhuang và Vientiane.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Thiếu tướng BÙI MINH THỨ.

Tháng 4-1962, Quân ủy Trung ương (Việt Nam) quyết định thành lập Đảng ủy Mặt trận thượng Lào và Bộ tư lệnh Chiến dịch Namtha. Tham gia Bộ tư lệnh chiến dịch có đồng chí Bằng Giang, Tư lệnh Quân khu Tây Bắc, đồng thời là Tư lệnh QTN Bắc Lào và một số cán bộ cao cấp của Việt Nam. Phía Lào có đồng chí Sisavat Keobounphan, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Pathet Lào. Lực lượng tham gia chiến dịch của QTN Việt Nam có Lữ đoàn 316, Lữ đoàn 335, Tiểu đoàn 3-Lữ đoàn 330 và các tiểu đoàn: Pháo binh 75, cối 120mm, cao xạ 12,7mm và các đơn vị bảo đảm khác. Phía bạn có Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 701 và hai đại đội với dân quân du kích cấp xã. Toàn chiến dịch đã tiêu diệt khoảng 2.000 tên địch thuộc lực lượng cơ động chiến lược của quân ngụy Vientiane, trong đó 3 binh đoàn bị tiêu diệt và thiệt hại nặng.

Giai đoạn 1965-1973, các đơn vị QTN&CGVN tập trung giúp bạn xây dựng LLVT, đẩy mạnh phối hợp mở các chiến dịch lớn đánh địch ở Bắc, Trung, Nam Lào; góp phần đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ và tay sai. Tiêu biểu là các Chiến dịch: Nam Pac (1968); Pathi, Na Khang Xamneua (1968), các chiến dịch tiến công và phòng ngự ở Cánh đồng Chum-Xieng Khouang (từ năm 1969 đến 1973) và các Chiến dịch Đường 9 Nam Lào... Trong đó, các đơn vị QTN Việt Nam là lực lượng chủ yếu nòng cốt trong liên minh chiến đấu ở các chiến dịch này. Từ năm 1973 đến 1975, nhờ sự phối hợp giúp đỡ hiệu quả của QTN&CGVN, các LLVT Lào đã đấu tranh buộc kẻ địch phải thực hiện Hiệp định Vientiane, giữ vững hòa bình, tạo thế, tạo lực tiến lên thực hiện thắng lợi các đòn chiến lược quân sự, chính trị, ngoại giao, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Lào năm 1975.

-------------------

Thiếu tướng NGUYỄN ĐỨC HÓA, Phó chính ủy Quân khu 4: Góp phần xây tuyến biên giới hòa bình, phát triển

Những năm qua, trên cơ sở nắm vững đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và nhiệm vụ quốc phòng, quân sự được giao, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 4 tập trung lãnh đạo, chỉ đạo LLVT quân khu phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng, thực hiện nhiều giải pháp thiết thực để xây dựng địa bàn biên giới vững mạnh toàn diện; đồng thời, tích cực tham gia phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ở khu vực biên giới.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Thiếu tướng NGUYỄN ĐỨC HÓA.

Hằng năm, Bộ tư lệnh quân khu đều tổ chức hội nghị liên tịch ký kết biên bản phối hợp thực hiện các nội dung hợp tác với Sư đoàn 4, Sư đoàn 1 và một số bộ CHQS các tỉnh của nước bạn Lào. Căn cứ vào tình hình thực tiễn, Quân khu 4 chủ động xây dựng kế hoạch, triển khai nhiệm vụ giúp bạn cụ thể trong từng giai đoạn, từng năm và đạt nhiều kết quả quan trọng, thiết thực.

Các địa phương và các đoàn kinh tế-quốc phòng, Tổng công ty Hợp tác kinh tế và các đơn vị trực thuộc đồng thời triển khai nhiều chương trình, giúp đỡ các địa phương trên tuyến biên giới nước bạn ở nhiều lĩnh vực, như: Xây dựng cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm, thủy lợi; khảo sát lập dự án trồng cây công nghiệp, chế biến nông, lâm sản; lập các đề tài khoa học điều tra đánh giá về đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng; hỗ trợ giáo dục-đào tạo cán bộ, học sinh của nước bạn. Hai bên cũng luân phiên tổ chức gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm về sản xuất nông, lâm nghiệp; khuyến khích và có các chính sách hỗ trợ những doanh nghiệp đầu tư vào các dự án; hợp tác trao đổi hàng hóa qua các cửa khẩu theo lợi thế của từng nước...

Những kết quả đó tạo sự gắn bó đoàn kết keo sơn giữa LLVT hai nước, góp phần giữ vững ổn định biên giới và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước. Đây cũng là cơ sở để Quân khu 4 rút kinh nghiệm, tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp, nhằm xây dựng tuyến biên giới ổn định, hữu nghị, phát triển trong thời gian tới.

-------------------

Thiếu tướng TRẦN NGỌC TUẤN, Phó chính ủy Quân khu 2: Tăng cường kết nghĩa, hợp tác toàn diện

Phát huy tình đoàn kết anh em thủy chung, trong sáng, trọn nghĩa vẹn tình của quân và dân Tây Bắc với quân và dân các tỉnh Bắc Lào, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh (BTL) Quân khu 2 đặc biệt quan tâm công tác kết nghĩa, kết tình và phát triển hợp tác quốc phòng với bạn. LLVT các tỉnh biên giới hai bên đã thiết lập chế độ hợp tác, tổ chức tuần tra song phương, kịp thời phát hiện những vấn đề liên quan đến đường biên, mốc giới và tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới, trao đổi, phối hợp, xử lý kịp thời, hiệu quả. Đồng thời, nắm chắc tình hình, tổ chức rà soát, bổ sung, luyện tập các phương án, kế hoạch SSCĐ, hỗ trợ cứu hộ cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, phối hợp bảo vệ địa bàn, quản lý đường biên mốc giới, góp phần xây dựng tuyến biên giới Việt Nam-Lào hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển toàn diện.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
 

Đảng ủy, BTL Quân khu 2 chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tổ chức tốt các hoạt động ngoại giao nhân dân; triển khai nhiều hoạt động hợp tác giúp bạn đầu tư xây dựng các công trình điện, đường, trường, trạm, trung tâm khuyến nông, trụ sở, nhà văn hóa, nước sạch; đầu tư cây, con giống, khám bệnh, cấp thuốc miễn phí, giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao tại 5 cụm bản của các tỉnh Houaphanh, Phongsaly và Luang Prabang. Tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương giúp bạn củng cố cơ sở chính trị địa bàn. Trong giai đoạn 2015-2019, quân khu đã xây tặng gia đình người có công, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại các tỉnh Bắc Lào 28 nhà tình nghĩa, tổng trị giá gần 5,5 tỷ đồng; thăm hỏi, ủng hộ các gia đình bị thiệt hại do cháy chợ hàng trăm triệu đồng; vận động nhân dân không trồng cây thuốc phiện, tự giác giao nộp vũ khí, vật liệu nổ cho chính quyền; hướng dẫn nhân dân phát triển mô hình kinh tế hộ gia đình, từng bước xóa đói giảm nghèo …

Những kết quả về công tác kết nghĩa, kết tình của LLVT Quân khu 2 với các tỉnh Bắc Lào, góp phần xây đắp thêm tình hữu nghị đặc biệt Việt-Lào sâu đậm, mẫu mực trong nghĩa vụ quốc tế cao cả, thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Việt-Lào hai nước chúng ta, tình sâu hơn nước Hồng Hà-Cửu Long” và Chủ tịch Souphanouvong khẳng định: “Mối tình Lào-Việt là mối tình thủy chung, trong sáng, cao hơn núi, dài hơn sông, rộng hơn biển cả, đẹp hơn trăng rằm và ngát thơm hơn bất cứ đóa hoa nào thơm nhất”.

-------------------

Thiếu tướng NGUYỄN ĐÌNH TIẾN, Phó tư lệnh Quân khu 5: Vun đắp tình hữu nghị bằng những việc làm thiết thực, cụ thể

Việt Nam-Lào nói chung, Quân khu 5 và 4 tỉnh Nam Lào nói riêng là láng giềng gần gũi, núi sông liền một dãy, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ. Truyền thống đoàn kết, liên minh chiến đấu của nhân dân hai nước được hình thành và phát triển trong lịch sử xây dựng, phát triển của hai đất nước, hai dân tộc, hai quân đội...

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Thiếu tướng NGUYỄN ĐÌNH TIẾN.

Trong thời kỳ mới, Quân khu 5 cùng với Sư đoàn 5 và bộ CHQS 4 tỉnh Nam Lào thường xuyên tổ chức các hội nghị liên tịch, trao đổi thông tin và thống nhất nhận định, đánh giá tình hình. Quân khu 5 tiếp tục giúp bạn Lào về công tác xây dựng cơ bản, huấn luyện quân sự, công tác kỹ thuật, giúp bạn phát triển kinh tế. Bạn Lào tạo điều kiện thuận lợi cho ta sang tìm kiếm, quy tập, hồi hương hài cốt liệt sĩ QTN&CGVN hy sinh tại Lào trong các thời kỳ chiến tranh về nước... Chỉ tính riêng từ năm 2009 đến 2019, Quân khu 5 đã giúp Sư đoàn bộ binh 5, bộ CHQS các tỉnh Nam Lào và Trường Hạ sĩ quan số 2 Vieng Xay tổng kinh phí 162,015 tỷ đồng; tổ chức tập huấn cho 619 học viên của bạn.

Trên nền tảng quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước; thời gian tới, hai bên tiếp tục tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân và thế hệ trẻ hai nước trong việc giữ gìn, vun đắp mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước; chỉ đạo các lực lượng thường xuyên phối hợp trao đổi thông tin, nắm chắc âm mưu, ý đồ chống phá của các thế lực thù địch để kịp thời xử lý, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của mỗi nước; xây dựng tuyến biên giới Việt Nam-Lào hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển.

Kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống QTN&CGVN tại Lào, bằng những việc làm thiết thực, cụ thể, LLVT Quân khu 5 tiếp tục vun đắp mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam, vì lợi ích của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

-------------------

Đại tá BANGSY XAY XOM KHOT, Tùy viên Quân sự, Đại sứ quán Lào tại Việt Nam: Chung tay vun đắp tình nghĩa láng giềng thiêng liêng

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân hai nước Lào-Việt Nam đã cùng nhau xây dựng mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại cùng Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong kính yêu dày công vun đắp.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đại tá BANGSY XAY XOM KHOT.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Người luôn đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh của nhân dân các nước, trong đó có dân tộc Lào. Người cũng quan tâm sâu sắc, coi việc giúp đỡ nhân dân Lào vừa là trách nhiệm, vừa là nghĩa vụ, là một nội dung quan trọng nhất của tình đoàn kết và liên minh chiến đấu Lào-Việt Nam.

Chủ tịch Kaysone Phomvihane cũng đánh giá: Trong lịch sử cách mạng thế giới đã có nhiều tấm gương sáng về tinh thần quốc tế vô sản cao cả, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có tình đoàn kết như Việt Nam-Lào… Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào-Việt Nam sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông.

70 năm đã trôi qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào không bao giờ quên rằng, trên mảnh đất yêu thương và thiêng liêng của mình đều thấm giọt mồ hôi, xương máu của cán bộ, chiến sĩ QTN&CGVN. Mồ hôi, xương máu của bộ đội Việt Nam đã hòa cùng mồ hôi, xương máu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các bộ tộc Lào. Trên khắp đất nước Lào thân yêu, biết bao con suối, con sông, ngọn núi in dấu chân của các chiến sĩ Việt-Lào.

Để xứng đáng với truyền thống hào hùng và sự hy sinh cao cả đó, chúng ta cần tiếp tục củng cố, tăng cường hơn nữa tình đoàn kết đặc biệt, quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam; coi đây là lẽ sống, là nghĩa tình thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm cũng không thể lay chuyển được nghĩa tình sắt son Lào-Việt Nam. Chúng ta cùng giữ gìn, phát huy hơn nữa tình cảm anh em thắm thiết, nghĩa láng giềng thiêng liêng, để sự gắn bó này ngày càng phát triển mạnh mẽ, đi vào chiều sâu; coi đó là tài sản thiêng liêng vô cùng quý giá, cần trao truyền mãi mãi cho các thế hệ mai sau.

-------------------

Đại tá VŨ VĂN ĐIỀM, Bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh Binh đoàn 11: Khắc sâu trong tim về tình đoàn kết vĩ đại

Là một trong những đơn vị nòng cốt trong lĩnh vực xây dựng cơ bản của toàn quân và làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn Lào, ngay sau khi được giao nhiệm vụ, Binh đoàn 11 đã phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, nắm chắc thuận lợi, khó khăn, xây dựng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao nhất. Đơn vị triển khai thực hiện nhiệm vụ giúp bạn bằng tất cả tâm huyết, trách nhiệm; coi đó là nhiệm vụ chính trị, là nghĩa tình anh em son sắt, thủy chung.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đại tá VŨ VĂN ĐIỀM.

Xuất phát từ tình cảm trong sáng, nhiều năm trở lại đây, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn 11 luôn sát cánh cùng quân và dân các bộ tộc Lào tích cực tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế-xã hội, khôi phục và xây dựng cơ sở hạ tầng. Dấu chân của cán bộ, chiến sĩ đơn vị có mặt ở hầu hết các địa phương trên đất nước Lào anh em, giúp bạn thi công nhiều công trình trọng điểm, có giá trị về chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, quốc phòng, như: Nhà Quốc hội, Học viện Chính trị; quảng trường; nhà ga; đài chỉ huy sân bay Vientiane; Nghĩa trang liệt sĩ Xam Neau... Bên cạnh đó, Binh đoàn 11 còn giúp bạn khai thông nhiều tuyến đường huyết mạch, tham gia khắc phục hậu quả bom, mìn…

Đặc biệt mới đây, Binh đoàn 11 đã ủng hộ bà con tỉnh Attapeu bị thiên tai 1 tỷ đồng Việt Nam; hỗ trợ nhân dân các bộ tộc Lào trên địa bàn các tỉnh miền Nam và miền Trung khắc phục hậu quả trận mưa lũ lịch sử xảy ra đầu tháng 9 vừa qua số tiền hơn 300 triệu đồng. Đó chính là tấm lòng và tình cảm chân thành của bộ đội Việt Nam đối với nhân dân Lào anh em.

Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, tình cảm son sắt thủy chung, tinh thần gắn bó keo sơn giữa Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam sẽ mãi là biểu tượng cao đẹp của tinh thần quốc tế trong sáng, tiếp tục khẳng định tình đoàn kết đặc biệt, vĩ đại giữa hai đất nước chúng ta. Chân lý bất diệt đó mỗi chúng ta cần khắc sâu trong con tim, khối óc.

----------------------

Đồng chí NGUYỄN PHƯƠNG NGA, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam: Tình hữu nghị Việt-Lào là tài sản thiêng liêng, vô giá

Hiện nay, Việt Nam-Lào đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; phấn đấu xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh... Trong bối cảnh mới, các quốc gia đều đề cao lợi ích dân tộc, chúng ta cần giữ gìn, bảo vệ, tăng cường hơn nữa quan hệ láng giềng hữu nghị, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào; làm sâu sắc, phong phú thêm và đưa mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào ngày càng phát triển mạnh mẽ, đi vào chiều sâu, để mối quan hệ hiếm có này mang lại lợi ích thiết thực cho hai dân tộc.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đồng chí NGUYỄN PHƯƠNG NGA.

Bên cạnh việc tăng cường hợp tác về chính trị, ngoại giao, an ninh, quốc phòng, thúc đẩy kết nối hai nền kinh tế, nhất là kết nối về thể chế, hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông, du lịch, nâng cao hiệu quả các dự án hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học-công nghệ, cần đặc biệt chú trọng tới giao lưu nhân dân và hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, để các thế hệ tương lai tiếp tục vun đắp, củng cố và tăng cường tình hữu nghị gắn bó keo sơn giữa nhân dân hai nước. Cùng với đó, cần tăng cường thông tin tuyên truyền về đất nước, con người, văn hóa; xử lý thỏa đáng những vấn đề nhạy cảm, không để ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ hai nước. Đặc biệt, cần đẩy mạnh các hoạt động cứu trợ nhân đạo, các chuyến về nguồn, tặng quà và tri ân các anh hùng liệt sĩ, nhân dân các bộ tộc Lào đã cưu mang, đùm bọc và hy sinh xương máu, bảo vệ QTN&CGVN, để giáo dục thế hệ trẻ hôm nay về tình đoàn kết đặc biệt keo sơn giữa hai dân tộc.

Hội hữu nghị hai nước đang tích cực phối hợp tổ chức các hoạt động tri ân tại Lào nhân kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống QTN&CGVN tại Lào. Chúng ta cũng đang chuẩn bị nhiều hoạt động lớn, có ý nghĩa sâu sắc để kỷ niệm nhiều sự kiện trọng đại của hai nước trong năm 2020. Tình hữu nghị, đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa hai dân tộc Việt Nam-Lào là tài sản thiêng liêng, vô giá, có ý nghĩa sống còn đối với cả hai dân tộc. Chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp để vun đắp quan hệ hai nước mãi mãi “vững bền hơn núi, hơn sông”!

-------------------

Đại tá NGUYỄN VĂN QUYẾT, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Việt Nam: Biểu tượng vĩ đại của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào

Trong 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Trường Sơn (nhân dân Lào gọi là Phu Luông) luôn được coi là biểu tượng của sự kiên cường, bền vững, của tình đoàn kết, lòng dũng cảm, ý chí quyết thắng, khí phách anh hùng của nhân dân hai nước. Và tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn vinh dự được mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là tiêu điểm của tinh thần ấy, ý chí ấy.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đại tá NGUYỄN VĂN QUYẾT.

Từ khi hình thành cho đến khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đường Hồ Chí Minh chủ yếu đi trên đất Lào với chiều dài hơn 1.000km. Do tầm quan trọng đặc biệt nên trong suốt 16 năm, đế quốc Mỹ và tay sai đã sử dụng mọi biện pháp tàn bạo và thâm độc nhằm ngăn chặn, hủy diệt, chấm dứt tuyến chi viện chiến lược đó.

Khó có thể nói hết những đóng góp to lớn của Đảng, Chính phủ, nhân dân và LLVT cách mạng Lào đối với sự sống còn của tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn. Chính qua sự tồn tại và phát triển của con đường lịch sử, chúng ta có thể thấy mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào đã có tiền đề tự nhiên, lịch sử, có cơ sở xã hội vững chắc. Đường Hồ Chí Minh được xây dựng và phát triển cũng không phải do ý muốn chủ quan, mà từ yêu cầu khách quan, bức thiết, có ý nghĩa sống còn của cuộc đấu tranh của hai dân tộc để giành, giữ và xây dựng đất nước. Con đường huyền thoại trong mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào là kết quả của một quá trình vận động cách mạng tự giác, từ thấp lên cao, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng cùng có lợi, thực sự tin cậy, gắn bó với nhau, chân thành hợp tác giúp đỡ nhau vì lợi ích chung của mỗi nước, của cả hai dân tộc. Chính vì vậy, có thể coi tuyến đường chiến lược Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh là một biểu tượng tuyệt đẹp, một tượng đài vĩ đại và bất tử của mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào, của liên minh đoàn kết chiến đấu Việt-Lào-Campuchia.

-------------------

Anh hùng LLVT nhân dân PHẠM MINH GIÁM, cựu QTN Việt Nam tại Lào: Trận đánh ở cao điểm 1433

Với tôi và cán bộ, chiến sĩ thuộc Đại đội Đặc công 24, Trung đoàn 866 QTN Việt Nam, nhận nhiệm vụ chiến đấu tại Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng, lật đổ chế độ tay sai Vàng Pao luôn là niềm vinh dự lớn lao.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Anh hùng LLVT nhân dân PHẠM MINH GIÁM.

Vàng Pao sinh ra, lớn lên và nổi danh tại Xiêng Khoảng, nhưng lại sớm làm tay sai cho Mỹ và đội quân xâm lược, đi ngược lại lợi ích chính đáng của nhân dân và các bộ tộc Lào. Với sự giúp sức của Mỹ, Vàng Pao cho xây dựng lãnh địa Long Cheng, Xiêng Khoảng thành nơi bất khả xâm phạm quân sự, hòng kìm kẹp cộng sản ở khu vực Đông Dương. Thực hiện nguyện vọng của nhân dân Lào, cán bộ, chiến sĩ quân đội hai nước Việt-Lào quyết định tiêu diệt Vàng Pao. Bộ tư lệnh chiến dịch mang tên Z chính thức thành lập. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội Đặc công 24, Trung đoàn 866 vinh dự nhận nhiệm vụ đặc biệt này. Lãnh địa Long Cheng nằm trên cao điểm 1433, là dãy núi đá cao, vách đứng hiểm trở, lối lên duy nhất là vệt mòn rất bé, vòng vo qua 6 nhịp cầu thang bện bằng dây mới tới tam giác tiền tiêu.

Mũi tấn công đặc biệt được chia làm hai tổ với 6 người. Gần kề lãnh địa, tổ thứ hai bị địch phát hiện, chúng điên cuồng trút đạn và chất nổ, tập trung mọi hỏa lực nhằm hủy diệt. Nhóm 6 người (2 người hy sinh, 3 người mắc kẹt phía sau), dù chỉ còn lại một mình, tôi cũng phải thực hiện bằng được nhiệm vụ. Tôi lao vào chiếm lĩnh trận địa, máu tràn ra khắp mặt. Biết mình bị thương nhưng phải quyết tâm xóa hết cả những họng hỏa lực đang rực đỏ kia. Khi những chớp nổ thưa dần, tiếp đó là tín hiệu của cán bộ, chiến sĩ trên khắp mặt trận đã thực hiện rất tốt mệnh lệnh hợp đồng binh chủng. Nhiệm vụ của tôi đã hoàn thành, giao lại trận địa cho đơn vị, bước qua những xác chết ngổn ngang mà mới trước đó còn là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm.

Gần nửa thế kỷ đi qua, tôi trở lại cao điểm 1433 với những được-mất, vui-buồn từ thời trai trẻ nghẹn ngào ùa về. Vùng đất, con người Xiêng Khoảng đang chuyển mình trong hòa bình và phát triển. Nhiều trường học, bệnh viện, công trình, nhất là các tuyến giao thông được xây dựng minh chứng cho cuộc sống yên bình, tự do, hạnh phúc. Tôi tin thế hệ công dân mới của hai nước Việt-Lào sẽ xây dựng thật nhiều những công trình kinh tế trọng điểm trên mảnh đất đã chịu nhiều đạn bom này.

-------------------

Đại tá, TS TRƯƠNG THỊ MAI HƯƠNG, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Đẩy mạnh hợp tác quốc phòng, thắt chặt tình hữu nghị bền vững

Mối quan hệ truyền thống hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào được hình thành từ lâu trong lịch sử, trở thành tài sản vô giá của hai dân tộc. Nét đậm trong những trang sử vàng ấy chính là mối quan hệ đặc biệt bền vững giữa Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam và QĐND Lào, thể hiện rõ nét ở việc: Quân đội hai nước thường xuyên tổ chức các đoàn đại biểu quân sự cấp cao thăm, làm việc; tăng cường giúp đỡ nhau trên các lĩnh vực, đề ra các giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng và phát triển quân đội hai nước ngày càng hiện đại.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đại tá, TS TRƯƠNG THỊ MAI HƯƠNG

Cùng với đó, hai nước còn tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo giữa hai quân đội. Đến nay, đã có hàng nghìn học viên quân sự Lào theo học tại các học viện, nhà trường quân đội ở Việt Nam. Bộ Quốc phòng Lào cũng luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các học viên quân sự Việt Nam sang học tiếng Lào trong các học viện, nhà trường của Lào. Số học viên quân sự hai nước thực sự trở thành cầu nối quan trọng, vững chắc, gắn kết quan hệ đặc biệt, bền vững, lâu dài giữa quân đội hai nước. Cùng với đó, quân đội hai nước còn tích cực phối hợp trong công tác tìm kiếm, cất bốc, quy tập hài cốt liệt sĩ QTN&CGVN hy sinh trong thời kỳ chiến tranh tại Lào về Việt Nam.

QĐND hai nước cũng chung tay xây dựng đường biên giới quốc gia hòa bình, hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển. Đến nay, hệ thống mốc quốc giới Việt Nam-Lào đã cắm được 1.002 mốc và cọc dấu, được xây dựng tại 905 vị trí. Việt Nam và Lào cũng phối hợp xây dựng, hoàn thiện dự thảo Nghị định thư về đường biên giới, cửa khẩu biên giới trên đất liền giữa hai nước. Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Lào cũng hợp tác hiệu quả trong các cơ chế đa phương, nhất là Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), có nhiều đóng góp thiết thực vào việc thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của hai bên, tạo môi trường thuận lợi cho xây dựng, phát triển, củng cố tiềm lực quốc phòng, thế trận quốc phòng toàn dân của mỗi nước.

-------------------

Đại tá TRẦN HUY TUẤN, cựu QTN&CGVN tại Lào: Nhớ những ngày trinh sát trong lòng địch

Cuối năm 1964, tôi được điều sang Lào làm cán bộ trinh sát trong Bộ chỉ huy Quân khu cánh đồng Chum, Xiangkhouang. Cuối năm 1969, địch mở chiến dịch đánh chiếm cánh đồng Chum. Để bảo toàn lực lượng, quân khu tạm thời rút về biên giới hai nước giáp tỉnh Nghệ An, chỉ để lại một lực lượng nhỏ cơ động, nằm lại để theo dõi tình hình, chọn thời cơ đánh địch.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đại tá TRẦN HUY TUẤN

Trong lực lượng nằm lại có một tổ trinh sát của quân khu và một tổ trinh sát của lực lượng trung lập yêu nước, tất cả hơn 10 người. Nhiệm vụ của đội là nắm tình hình địch ở sân bay cánh đồng Chum, khi có lực lượng của ta đến thì phối hợp đánh địch. Quân khu giao cho đội chúng tôi phải tự lực hoàn toàn, bảo đảm mọi mặt để đội hoàn thành nhiệm vụ đến khi có lực lượng đến phối hợp. Chúng tôi quyết định phải xâm nhập vào khu vực sân bay, tuyên truyền vận động nhân dân ở lại, không để địch đưa về Vientiane; đồng thời tổ chức cho dân quân du kích trốn ra với anh em đội công tác. Tìm kiếm các kho hậu cần của quân khu và tổ chức thu hoạch lúa trên cánh đồng để bảo đảm lương thực trong những ngày sống trong lòng địch.

Trong đội công tác có một đồng chí sĩ quan của phái trung lập được đào tạo nghiệp vụ tình báo, rất am hiểu phong cách của quân phái hữu nên đã đóng giả sĩ quan địch, cùng hai chiến sĩ trung lập vào sân bay vận động nhân dân và du kích ra khỏi khu vực. Sau 3 lần vận động được hơn 80 người dân và du kích mang theo vũ khí, đạn dược, đủ trang bị cho một trung đội chiến đấu. Do có lực lượng SSCĐ nên chúng tôi đã bắn rơi một máy bay trực thăng của địch từ sân bay cánh đồng Chum bay qua địa bàn đội đóng quân.

Sau hơn một tháng hoạt động hoàn thành tốt nhiệm vụ, quân khu cho giải tán đội, anh em trở về đơn vị cũ, nhân dân và du kích trở về bản làng, khắc phục hậu quả chiến tranh. Ngày 22-12-1974, đồng chí Khamtay Siphandon, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy (Lào) gặp mặt đoàn chuyên gia quân sự và QTN Việt Nam tại Xamneua đã nói: Xương máu của bộ đội Việt Nam hòa quyện với xương máu của nhân dân và bộ đội Lào. Những tấm lòng trong sáng, thủy chung của các đồng chí bộ đội Việt Nam mãi mãi khắc sâu trong tâm trí nhân dân các bộ tộc Lào...

-------------------

Đại tá PHẠM BÁ HIẾN, cựu Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào: Thắng lợi của liên minh chống kẻ thù chung

Sau những thất bại liên tiếp trong chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”, giữa năm 1953, thực dân Pháp đưa tướng Navarre làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đại tá PHẠM BÁ HIẾN.

Phân tích kế hoạch Navarre và tình hình các mặt trên chiến trường, Bộ Tổng tư lệnh triển khai kế hoạch tác chiến trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 trên khắp 3 vùng chiến lược Bắc-Trung-Nam, phối hợp mở nhiều cuộc tiến công trên chiến trường Lào, Campuchia. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đưa ra một quyết định táo bạo, mở Chiến dịch Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia, làm cho địch càng thêm lúng túng, bị động.

Tháng 11-1953, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Đại đoàn 325 tổ chức mũi thọc sâu, kết hợp với lực lượng tại chỗ đánh địch ở Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia, gây bất ngờ cho địch về mặt chiến dịch, tạo bàn đạp cho chủ lực ta tiến xuống phía Nam, mở rộng vùng giải phóng của bạn, đánh thông hành lang chiến lược Bắc-Nam Đông Dương. Tiểu đoàn 436, Trung đoàn 101, Sư đoàn 325 được lệnh đánh thọc sâu xuống Hạ Lào; phối hợp với một đại đội Quân tình nguyện Việt Nam, một tiểu đoàn chủ lực và LLVT địa phương Pathet Lào đẩy mạnh các hoạt động quân sự trên toàn mặt trận.

Rạng sáng 30-1-1954, liên quân Lào-Việt tiến công cứ điểm Pui, tỉnh Attapeu-vị trí then chốt của địch trên địa bàn Nam Lào và nhanh chóng san phẳng cứ điểm này, toàn bộ quân địch bị tiêu diệt gọn. Chiến thắng Pui làm chấn động Hạ Lào, quân địch ở các cụm phòng thủ khác và trong thị xã Attapeu chưa bị đánh đã rối loạn. Lực lượng liên quân tiếp tục vây ép, buộc địch phải rút về thị xã Pakxe, tỉnh Attapeu được giải phóng. Trên đà thắng lợi, ta tiếp tục phát triển tiến công giải phóng cao nguyên Bolaven, một vị trí phòng thủ chiến lược quan trọng của địch.

Hạ tuần tháng 3-1954, Tiểu đoàn 436 phối hợp với một đại đội Quân tình nguyện Việt Nam và Quân giải phóng Issarak-Campuchia tiến công các cứ điểm của địch ở Đông Bắc Campuchia. Liên quân tiếp tục tấn công, uy hiếp các cứ điểm khác, giải phóng phần lớn tỉnh Kampong Cham, mở rộng vùng giải phóng đến Preah Vihear và Kampong Thom...

Tổng kết chiến dịch, liên quân Việt-Lào-Campuchia đã tiêu diệt 1.000 tên địch, giải phóng thêm 20.000km2, hành lang chiến lược nối liền Bắc-Nam Đông Dương được khai thông. Chiến thắng Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia là thắng lợi của tình đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa 3 dân tộc cùng nhau chống kẻ thù chung.

-------------------

Đại tá, PGS, TS PHẠM VĂN VINH, Phó chủ nhiệm Khoa CTĐ, CTCT, Học viện Quốc phòng: Thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao cấp quân sự cho Lào

Ngày 21-2-1976, trong quyết định thành lập Học viện Quân sự Cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng-HVQP), Bộ Quốc phòng đã giao nhiệm vụ: "Bổ túc, đào tạo cán bộ cao cấp LLVT; tham gia nghiên cứu các vấn đề về khoa học quân sự; giúp bạn bồi dưỡng cao cấp quân sự (CCQS)...". Nghị quyết số 36-NQ/QU của Quân ủy Trung ương và Hướng dẫn số 32/HD-NT ngày 23-1-1982 của Cục Nhà trường tiếp tục xác định: "Đào tạo, bổ túc cán bộ chỉ huy-tham mưu tác chiến binh chủng hợp thành cho Lào và Campuchia". 

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đại tá, PGS, TS PHẠM VĂN VINH

Từ đó đến nay, HVQP đã thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao cấp cho Quân đội nhân dân Lào. Quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ CCQS cho Lào, Đảng ủy, Ban giám đốc HVQP luôn quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc việc xây dựng chương trình, nội dung, kế hoạch huấn luyện; nghiên cứu, biên soạn tài liệu, giáo trình dạy học phù hợp với từng đối tượng; ban hành quy chế về tổ chức đào tạo, quản lý học viên. Kết hợp vừa giảng dạy, vừa tìm hiểu trình độ nhận thức, tâm lý, động cơ học tập của học viên để điều chỉnh nội dung, phương pháp huấn luyện phù hợp hiệu quả.

 Theo đánh giá của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào, số cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng tại HVQP (Việt Nam) sau khi về nước đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó nhiều đồng chí được thăng quân hàm cấp tướng; nhiều cán bộ đã và đang đảm nhiệm các cương vị quan trọng của Đảng, Nhà nước, quân đội Lào.

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, HVQP tin tưởng, thời gian tới, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ CCQS cho Lào tiếp tục đạt được những thành tựu và kết quả to lớn; góp phần củng cố, vun đắp mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và quân đội hai nước trong thời kỳ mới.

-------------------

Đại tá NGUYỄN TỰ LẠC, cựu Chuyên gia Việt Nam tại Lào: Tích cực giúp bạn giữ vững ổn định chính trị

Cuối năm 1975, đầu năm 1976, QTN&CGVN tại Lào từng bước được rút về nước sau khi hoàn thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang. Tuy nhiên, ngay sau đó tình hình an ninh ở Lào diễn biến phức tạp do địch đã khôi phục lực lượng tiến hành hoạt động phá hoại. Tháng 5-1976, hai bên thống nhất tiếp tục tổ chức đưa CGVN sang giúp Nhà nước và quân đội Lào giữ được tình hình ổn định một cách cơ bản vững chắc.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đại tá NGUYỄN TỰ LẠC.

Để hoạt động của các CGVN đạt hiệu quả cao nhất, cần có phương pháp tổ chức phù hợp với tình hình mới, đặc biệt là phát huy khả năng của cơ quan, đơn vị tương ứng của Việt Nam khi cử cán bộ sang Lào. Hai bên thống nhất phương thức tổ chức là “bộ giúp bộ, ngành giúp ngành, có tổ chức chuyên gia bên cạnh cơ quan Bộ Quốc phòng và chuyên gia theo công việc”.

Trên cơ sở đó, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn chuyên gia quân sự (Đoàn 576). Sự hiện diện của QTN&CGVN là sự răn đe với bọn phản động, còn đối với cán bộ, nhân dân Lào là tăng thêm tin tưởng, yên tâm xây dựng cơ sở chính trị, chính quyền mới, phát triển kinh tế-xã hội… Trên thực tế, QTN&CGVN đã giúp thu hẹp địa bàn ảnh hưởng và ngăn chặn hoạt động phá hoại của địch, giảm thiệt hại. Đặc biệt là triệt tiêu được nguy cơ bạo loạn lật đổ.

Trong thời gian hoạt động trên nước bạn, Đoàn 576 đã tích cực tập huấn bồi dưỡng cán bộ quân sự; tổ chức phương pháp huấn luyện chính quy; biên soạn hệ thống tài liệu huấn luyện; khôi phục hoạt động hệ thống nhà trường; sửa chữa bảo dưỡng khôi phục các loại vũ khí, khí tài sau chiến tranh… Các CGVN thường trực bên cạnh cơ quan Bộ Quốc phòng theo dõi, nắm tình hình cũng như đề xuất việc hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa ta và bạn.

Các CGVN còn đẩy mạnh xây dựng lực lượng cho quân đội Lào, nâng quy mô tổ chức từ tiểu đoàn lên thành trung đoàn, sư đoàn; giúp công tác quân sự địa phương, công tác lãnh đạo giáo dục chính trị tư tưởng cho bộ đội (nhất là cán bộ trung cấp và cao cấp). Phối hợp giải quyết kịp thời các vấn đề hậu cần, kỹ thuật cho bạn...

-------------------

Thượng tá NGUYỄN VĂN NAM, Đội trưởng Đội Quy tập, Bộ CHQS tỉnh Nghệ An: Bạn hết lòng giúp đỡ bộ đội Việt Nam quy tập hài cốt liệt sĩ 

Năm 1984, Đoàn Quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) thuộc Bộ CHQS tỉnh Nghệ Tĩnh (nay là Đội Quy tập, Bộ CHQS tỉnh Nghệ An) được thành lập. Đơn vị có nhiệm vụ trực tiếp thu thập, xử lý thông tin, tìm kiếm, quy tập HCLS QTN&CGVN hy sinh trên địa bàn 3 tỉnh: Xiêng Khoảng, Viêng Chăn, Xasomboun (Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào).

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Thượng tá NGUYỄN VĂN NAM.

Cuộc chiến tranh ngày càng lùi xa, những nhân chứng ngày càng ít nên khó khăn trong việc cung cấp thông tin cần thiết. Trải qua mấy chục năm biến động, địa hình, địa vật thay đổi nên rất khó để xác định tìm kiếm, quy tập... Thế nhưng, vượt lên tất cả, suốt 35 năm qua, các thế hệ cán bộ, nhân viên của đội đã thu thập thông tin, tìm kiếm và quy tập được 12.202 HCLS ở Lào. Với những nỗ lực, cố gắng, đội đã được tặng nhiều phần thưởng cao quý.

Để có kết quả trên, sự hợp tác và hỗ trợ tích cực, hiệu quả của Nhà nước, quân đội và nhân dân các bộ tộc Lào anh em có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nổi bật là sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban công tác đặc biệt Chính phủ, các tỉnh, các huyện, khệt, bản nước bạn. Nhờ công tác tuyên truyền đạt hiệu quả, người dân khi biết thông tin và vị trí chôn cất phần mộ QTN&CGVN đều kịp thời thông báo với đội quy tập để tiến hành khảo sát, tìm kiếm và quy tập. Trong đó có bố Giò Nỏ Trai (Xiêng Khoảng) đã thông tin cho đội tìm kiếm và quy tập hàng trăm HCLS. Các tỉnh Xiêng Khoảng, Vieeng Chăn, Xaysomboun bố trí cho đội 10 ngôi nhà tạm để ăn nghỉ tại trung tâm địa bàn đội hoạt động. Tỉnh Xiêng Khoảng bố trí cho đội 3ha đất để xây dựng nhà tưởng niệm liệt sĩ.

Mỗi bộ phận của đội quy tập khi làm nhiệm vụ, bạn đều cử một tổ gồm: Hai đồng chí bộ đội, một đồng chí công an của huyện dẫn đường và bảo vệ. Riêng Bộ CHQS tỉnh Viêng Chăn cử đồng chí phó tham mưu trưởng và hai đồng chí chiến sĩ xuống cùng ăn, cùng ở, cùng giúp đỡ đội thực hiện nhiệm vụ. Khi cần thiết, đội đề nghị bạn giúp đỡ tăng cường lực lượng, phương tiện để thực hiện nhiệm vụ bạn luôn sẵn sàng giúp đỡ. Đặc biệt, nhân dân các bộ tộc Lào luôn thương yêu, đùm bọc, che chở, giúp đỡ cán bộ, nhân viên đội quy tập thực hiện nhiệm vụ mà không đòi hỏi bất cứ điều gì…

-------------------

Thượng úy PHẠM HUY ĐÔNG, Trưởng ban tiếng Lào, Báo Quân đội nhân dân: Đẩy mạnh tuyên truyền, góp phần vun đắp tình hữu nghị

Đảng, Nhà nước và quân đội hai nước Việt Nam-Lào luôn kề vai, sát cánh bên nhau trong suốt 70 năm qua. Báo chí của quân đội hai nước cũng gắn kết chặt chẽ, phục vụ nhiệm vụ chính trị của quân đội hai nước. Báo Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam đã cử nhiều chuyên gia sang giúp bạn và bạn cũng giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong công tác thông tin đối ngoại, tác nghiệp trên nước bạn, nhất là từ khi Báo QĐND Việt Nam mở phiên bản điện tử tiếng Lào.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Thượng úy Phạm Huy Đông.

Nhiệm vụ của Báo QĐND Điện tử tiếng Lào là đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin, góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước; tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong các lĩnh vực, góp phần giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về trách nhiệm gìn giữ mối quan hệ tốt đẹp giữa quân đội và nhân dân hai nước.

Ngày 20-10-2017, Báo QĐND Điện tử tiếng Lào chính thức xuất bản. Trên cơ sở tôn chỉ, mục đích của trang báo và định hướng tuyên truyền của cấp trên, Ban tiếng Lào đã dịch và đăng gần 10.000 tin, bài; 150 phóng sự ảnh, hàng chục bản tin media có clip ngắn kèm theo, chuyển ngữ 40 phóng sự. Đặc biệt, chúng tôi thường xuyên nhận được tin, bài, ảnh, video của các cộng tác viên là phóng viên Báo QĐND Lào.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại trên các lĩnh vực của đời sống xã hội hai nước nói chung, quân đội hai nước nói riêng, thời gian tới, Báo QĐND Điện tử tiếng Lào chú trọng đổi mới nội dung, hình thức xuất bản để kịp thời thông tin về tình hình chính trị, kinh tế-xã hội, văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam và Lào nói chung, cũng như hoạt động quân sự, quốc phòng của hai nước nói riêng, góp phần vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt giữa hai nước.

-------------------

Đồng chí NGUYỄN VĂN NGHIỆP, Phó trưởng ban Liên lạc toàn quốc cựu QTN&CGVN tại Lào: Tô thắm truyền thống vẻ vang Bộ đội Cụ Hồ

Gần 40 năm làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào, các lực lượng QTN&CGVN đã phát huy và tô thắm thêm truyền thống vẻ vang, cao quý của Bộ đội Cụ Hồ. Các lực lượng QTN Việt Nam đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa tinh thần yêu nước nồng nàn với tinh thần quốc tế trong sáng. Chiến đấu giúp bạn để chống kẻ thù chung vì nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Tất cả không ngại gian khổ, hy sinh, đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi cách mạng Lào cần. Không ít người đã phục vụ cách mạng Lào từ tuổi đôi mươi đến lúc nghỉ hưu, trọn nghĩa, trọn tình, trọn đời với cách mạng Lào.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đồng chí NGUYỄN VĂN NGHIỆP

Tôi nhớ mãi nội dung huấn thị của bác Phạm Văn Đồng trong buổi lễ xuất quân của đơn vị QTN đầu tiên từ Khu 5 sang Hạ Lào. Bác Phạm Văn Đồng nói: ... Chỉ có vận động được nhân dân Lào đứng lên kháng chiến mới đánh thắng được giặc Pháp xâm lược. Đó là hành trang chính trị của chúng tôi trong những năm chiến đấu, công tác ở Lào. Sang chiến trường Lào, anh em chia nhau bám dân, thực hiện 3 cùng, học tiếng, tìm hiểu phong tục tập quán; tích cực “bắt mối, xâu chuỗi, tìm nòng cốt” để xây dựng cơ sở, từ các tổ bí mật đến công khai, hình thành các tổ chức quần chúng, tổ chức dân quân du kích, tiến lên xây dựng chính quyền, phát triển đảng viên. Từng bước phát triển cơ sở từ hẹp đến rộng, từ yếu đến mạnh, hình thành các khu du kích. Cùng ăn ở, cùng lao động sản xuất, chia sẻ ngọt bùi, cùng dân đánh giặc, chống càn quét, bảo vệ cơ sở, bản làng.

Từ truyền thống vẻ vang thể hiện sinh động trong công tác và chiến đấu, trong cuộc sống đời thường, anh em ta đã được lãnh đạo và quân-dân bạn cảm thông, tin cậy, quý mến, giúp đỡ trong mọi hoàn cảnh. Nhiều anh được nhận làm con em kết nghĩa, đặt cho tên Lào vừa thân thương vừa dễ nhớ, dễ gọi, không phân biệt Việt-Lào. Các bô lão còn gọi QTN là đội quân nhà Phật. Qua thời gian và thử thách trong chiến đấu, trong quan hệ hợp tác, những tình cảm cao quý đó góp phần tạo nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, một di sản vô giá của hai dân tộc.

-------------------

Đồng chí LÊ MAI, Trưởng ban Liên lạc Đoàn 82, cựu chuyên gia Việt Nam tại Lào: Tình đoàn kết giản dị mà keo sơn, gắn bó

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhân dân hai nước Việt Nam và Lào đã đứng lên xóa bỏ ách thống trị của phát xít Nhật và thực dân Pháp. Hai nước thành hai quốc gia láng giềng thân thiện, độc lập, bình đẳng, có chủ quyền. Ngay sau đó, Chính phủ hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức, ký Hiệp định láng giềng thân thiện, ký Hiệp định thành lập Liên quân Lào-Việt, đặt nền móng và cơ sở pháp lý đầu tiên cho quan hệ Việt-Lào.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đồng chí LÊ MAI.

Trên cơ sở đó, Liên quân Lào-Việt được thành lập gồm các đơn vị quân đội Lào (cứu quốc quân) và lực lương võ trang Việt kiều (Việt kiều cứu quốc quân), chiến đấu bảo vệ chính quyền non trẻ. Sau chiến thắng Việt Bắc-Thu Đông 1947, Hoàng thân Phetxarath và Hoàng thân Souphanouvong đã gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khẳng định chiến lược đoàn kết với Việt Nam và đề nghị Việt Nam giúp Lào về vật chất, kinh nghiệm để lập các căn cứ địa cách mạng. Hội nghị quân sự toàn quốc tháng 1-1948 quyết định đưa các đơn vị chủ lực mang tên “Tây tiến”, từ Sơn La, Khu 4, Khu 5 và hàng nghìn thanh niên Việt kiều từ Thái Lan sang Lào theo phương châm: Chiến đấu võ trang gây cơ sở là chính; phải tôn trọng độc lập của Lào và mang tên Liên quân Lào-Việt; tuyệt đối không được có tư tưởng nước lớn; các bạn Lào cũng không nên có tư tưởng dân tộc hẹp hòi...

Từ năm 1948, các căn cứ cách mạng được nối liền từ Thượng đến Hạ Lào với các tỉnh biên giới của hai nước. Bạn Lào có chính quyền, lực lượng bán vũ trang, cơ sở Đảng… Trong cuộc họp ngày 30-10-1949, Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định: “Các lực lượng vũ trang Việt Nam hoạt động tại Lào từ đây sẽ mang danh nghĩa là “Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào”.

Liên quân Lào-Việt đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang. Các cán bộ, chiến sĩ Việt Nam tiếp tục đoàn kết, hợp tác chặt chẽ làm nhiệm vụ võ trang tuyên truyền, gây dựng cơ sở và trở thành các chuyên gia quân sự, cán bộ dân, chính, Đảng, giúp bạn đến thắng lợi hoàn toàn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đó là tình đoàn kết giản dị mà keo sơn gắn bó; gắn kết Liên minh Việt-Lào thành quan hệ đặc biệt.

-------------------

Đồng chí NGUYỄN SÔNG CẦU, nhà nghiên cứu Lào học, cựu QTN&CGVN tại Lào: Trước yêu cầu mới, hai dân tộc càng phải yêu thương, gắn bó chặt chẽ

Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng núi sông liền một dải, quan hệ gắn kết anh em được hình thành, hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Hơn 7 thập kỷ qua, mối quan hệ truyền thống tốt đẹp, sự gắn bó thủy chung giữa nhân dân hai dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kaysone Phomvihane đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước kế tục, dày công vun đắp, trở thành tài sản vô giá của hai dân tộc. Nhìn lại chặng đường lịch sử hào hùng đã qua, chúng ta có quyền tự hào về quá trình hình thành và phát triển của mối quan hệ đặc biệt, hiếm có Việt Nam-Lào. Trong thời kỳ đấu tranh chống quân xâm lược, hai nước thành lập liên minh Việt-Lào, chung sức chiến đấu chống kẻ thù chung, “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”. Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, hai nước lại kề vai sát cánh, hết lòng giúp đỡ nhau cùng phát triển.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đồng chí NGUYỄN SÔNG CẦU.

Chúng ta cũng vui mừng chứng kiến những đổi thay nhanh chóng trên đất nước triệu voi tươi đẹp và chân thành mong muốn nhân dân các bộ tộc Lào anh em, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân cách mạng Lào sẽ xây dựng thành công một nước Lào phồn vinh, quan hệ đối ngoại rộng mở, vị thế không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế mà nhân dân hai nước đang tiến hành đã tạo ra những xung lực mới, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu khách quan về gia tăng mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước, với những phương thức mới và nội dung mới. Do vậy, hai dân tộc cần tiếp tục tăng cường đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển, để cùng đạt được mục đích đề ra cho cách mạng hai nước. Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực hiện nay, hai dân tộc càng phải yêu thương, gắn bó, đoàn kết chặt chẽ, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân hai nước, vì sự phát triển bền vững, lâu dài của mỗi nước.

-------------------

PGS, TS ĐÀM ĐỨC VƯỢNG, nguyên chuyên gia Việt Nam tại Lào: Nâng tầm quan hệ Việt - Lào qua các hiệp định, hiệp ước

Rất nhiều hiệp định được ký giữa các bộ, ngành của Việt Nam và Lào trên các lĩnh văn hóa, khoa học kỹ thuật, giáo dục, y tế, giao thông vận tải, công nghiệp, nông nghiệp... Chúng tôi đã đưa được 60 bản hiệp định, hiệp ước vào trong bộ văn kiện (5 tập) về quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
PGS, TS ĐÀM ĐỨC VƯỢNG.

Để nâng tầm quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam, hai bên cần tiếp tục bổ sung để xây dựng những bản hiệp định, hiệp ước mới trên bình diện chung và của các ngành, các cấp trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, khoa học kỹ thuật, giáo dục, y tế, giao thông vận tải. Những bản hiệp định, hiệp ước trước đây phần lớn là ký kết giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, nay hoàn cảnh thay đổi nên nội dung của hiệp định, hiệp ước cũng cần được bổ sung, thay đổi cho phù hợp với tình hình mới của mỗi nước.

Tầm cao mới được nâng lên qua các hiệp định, hiệp ước phải được dựa trên những nguyên tắc bảo vệ độc lập dân tộc và giữ gìn an ninh quốc gia của mỗi nước, xem đó là sự nghiệp của nhân dân mỗi nước; tiếp tục cam kết hết lòng ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm tăng cường khả năng phòng thủ, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, giữ gìn công cuộc lao động, hòa bình, an ninh quốc gia của nhân dân mỗi nước, chống mọi âm mưu và hành động phá hoại của lực lượng xâm lược, phản động.

Tầm cao mới được nâng lên qua các hiệp định, hiệp ước khi mối quan hệ không ngừng được củng cố và tăng cường giữa hai Đảng, vốn cùng sinh ra từ Đảng Cộng sản Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, luôn luôn gắn bó với nhau trên cơ sở Chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế XHCN, đoàn kết nhất trí, tôn trọng và tin cậy nhau, hết lòng hết sức giúp đỡ nhau một cách khăng khít, vô tư.

-------------------

Đồng chí DƯƠNG MẠNH VIỆT, Trưởng ban Liên lạc QTN Việt Nam tại Lào, tỉnh Thái Nguyên: Tấm lòng người dân Lào

Cuối tháng 1-1973, thực hiện Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương, khắp mặt trận ở Lào đã im tiếng súng. Các đơn vị QTN Việt Nam rút ra vùng giải phóng, bàn giao cho các đơn vị quân giải phóng Pathet Lào tiếp nhận các vùng giáp ranh do chính quyền Vientiane kiểm soát.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Đồng chí DƯƠNG MẠNH VIỆT

Tôi được triệu tập về Bộ tư lệnh 959, đang đóng quân ở Mường Ngà (nay là huyện Viengxay, tỉnh Houaphanh) để nhận nhiệm vụ đặc biệt là quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) QTN&CGVN hy sinh tại Lào đưa về Tổ quốc. Cầm tập tài liệu trong tay với các hồ sơ, sơ đồ, mộ chí hàng chục nghìn liệt sĩ ở Xiangkhouang, Xamneua, Luang Prabang... mới thấm thía rằng chúng ta tổn thất biết nhường nào. Sau hơn một năm tiến hành quy tập HCLS, đến tháng 11-1974, chúng tôi đã đưa về nước hơn 1.800 HCLS với đầy đủ danh tính.

Cuối tháng 12-1974, khi đang tìm kiếm, quy tập HCLS ở bản Pha Nang, chúng tôi được lệnh bàn giao lại nhiệm vụ và hành quân về bộ tư lệnh nhận nhiệm vụ mới: Tăng cường cho chiến trường miền Nam. Ngày đó, tôi đứng giữa những ngôi mộ và nói: “Các đồng chí yên nghỉ ở đây nhé, chúng tôi về giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ngày hòa bình chúng tôi trở lại đón các đồng chí về Tổ quốc!”.

Câu nói đó như một duyên nợ, hơn 10 năm qua, tôi đã nhiều lần trở lại chiến trường xưa trên đất bạn Lào để tìm đồng đội của mình. Nhưng từ năm 1995, người dân về đây lập bản mới, họ không biết có nghĩa trang bộ đội Việt Nam nên đã chặt cây làm nhà. Biết đoàn chúng tôi đến tìm HCLS, dân bản sẵn sàng rời nhà đi để chúng tôi đào tìm. Năm 2015, tôi cùng anh em quyên góp mua quần áo ấm, sách vở học sinh, tặng các em nhỏ bản Pha Nang để tỏ lòng tri ân với dân bản. Tấm lòng của người dân Lào thật cao cả và đáng trân trọng. Từ năm 2011 đến 2017 tôi đã 15 lần trở lại chiến trường cùng các đội quy tập, đưa được 164 HCLS về nước và cung cấp thông tin cho các đội quy tập, tìm kiếm, cất bốc hàng nghìn HCLS đưa về Tổ quốc.

-------------------

Nghiên cứu sinh DAYMONE VIRANON, Học viện Hành chính quốc gia: Trách nhiệm tiếp tục giữ gìn và phát huy quan hệ đặc biệt Việt - Lào

Tôi sinh ra và lớn lên trong thời bình, không chứng kiến sự chiến đấu và hy sinh anh dũng của hai dân tộc Việt Nam-Lào trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do. Nhưng qua nghiên cứu tài liệu và nghe các thế hệ đi trước kể lại, tôi thấy rằng: Việt Nam-Lào luôn kề vai sát cánh bên nhau trong suốt 70 năm qua. Đó là mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, thủy chung và trong sáng.

Khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt-Lào
Nghiên cứu sinh Daymone Viranon.

Kế tục truyền thống về quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào trong lịch sử, hiện nay, Đảng và nhân dân hai nước tiếp tục sát cánh cùng nhau trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tăng cường quốc phòng, bảo vệ độc lập, chủ quyền của mỗi nước, góp phần đập tan âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Mối quan hệ Việt-Lào trở thành tài sản chung vô giá của hai dân tộc. Việc thúc đẩy mối quan hệ đặc biệt này là trách nhiệm của mỗi người dân hai nước.

Tôi may mắn được sang học tập và làm việc tại Việt Nam. Được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của lãnh đạo nhà trường, các thầy cô, sự động viên của gia đình, tôi đã vượt qua nhiều khó khăn để có được những kiến thức và kỹ năng bổ ích. Những năm tháng học tập, làm việc tại Việt Nam giúp tôi hiểu sâu sắc hơn về đất nước và con người Việt Nam, về mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào; giúp tôi ý thức trách nhiệm phải kế tục, giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt đó. Tôi mong muốn bằng những việc làm của mình, góp phần làm sâu sắc, phong phú thêm và đưa mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào ngày càng phát triển. Một trong những việc làm đó của tôi là thực hiện tốt nhiệm vụ làm công tác hiệu đính tin, bài cho Báo Quân đội nhân dân (QĐND) Điện tử tiếng Lào. Tôi rất vinh dự khi được thủ trưởng Ban Biên tập Báo QĐND tin tưởng giao nhiệm vụ làm công tác này.

 Thấy rõ trọng trách mà Ban Biên tập giao cho, ngay từ những ngày đầu nhận nhiệm vụ, tôi luôn trăn trở làm thế nào để Báo QĐND Điện tử tiếng Lào có những tin, bài chất lượng tốt nhất, bảo đảm đúng chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và quân đội, không để xảy ra sai sót. Với những nỗ lực của các biên tập viên tiếng Lào cùng sự quan tâm giúp đỡ, động viên của các đồng chí lãnh đạo Báo QĐND, từ khi chính thức khai trương đến nay, Báo QĐND Điện tử tiếng Lào đã xuất bản được gần 10.000 tin, bài, 150 phóng sự ảnh, gần 100 bản tin, phóng sự media... được bạn đọc trong và ngoài nước đánh giá cao. Thật hạnh phúc khi tôi được góp phần nhỏ bé vào kết quả đó cũng như vào quá trình xây dựng và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Liên kết web
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây