CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP TIẾN TỚI ĐẠI HỘI TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG

Dự thảo lần 4 Báo cáo tổng kết công tác mặt trận nhiệm kỳ 2014 - 2019 của Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh trình Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2019 - 2024

 
DỰ THẢO LẦN 4
PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN,XÂY DỰNG QUẢNG TRỊ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG
(Báo cáo của Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh khóa XI tại Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Trị lần thứ XII, Nhiệm kỳ 2019 - 2024)
Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị diễn ra đúng vào thời gian toàn tỉnh lông trọng tổ chức các hoạt động kỷ niệm 30 năm tái lập tỉnh Quảng (01/7/1989 - 01/7/2019), thời điểm mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân quyết tâm cao nhất để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2015 - 2020), phấn đấu đưa Quảng Trị đạt trình độ phát triển trung bình của cả nước. Vui mừng, phấn khởi trước những thành tựu của công cuộc đổi mới, với vai trò, trách nhiệm của Mặt trận trong sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Trị khóa XI trình Đại hội báo cáo tổng kết, đánh giá kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI gồm các nội dung sau:
Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG ĐẠI HỘI XI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỈNH QUẢNG TRỊ, NHIỆM KỲ 2014-2019

I. TÌNH HÌNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN VÀ CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN
Nhiệm kỳ qua, khối đại đoàn kết toàn dân địa phương được củng cố và tăng cường, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao; quyền làm chủ của Nhân dân được thể hiện ngày càng rõ hơn trong tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tham gia quản lý kinh tế, xã hội và phát triển cộng đồng.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, cơ cấu xã hội, lao động và dân cư của tỉnh có sự chuyển dịch và biến đổi đa dạng, số lượng, thành phần các giai cấp, tầng lớp Nhân dân có xu hướng gia tăng, với vai trò, vị thế khác nhau, song về cơ bản vẫn đảm bảo sự gắn kết thống nhất theo chiều hướng tích cực, trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. Mặc dù đời sống một bộ phận Nhân dân vẫn đang còn khó khăn, nhưng tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau vẫn đang là truyền thống, xu hướng trong đời sống xã hội và Nhân dân.
Cùng với hiệu quả triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trong phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của tỉnh, chất lượng các cuộc vận động và phong trào thi đua yêu nước được tăng cường, tích cực động viên, khích lệ Nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững; Mặt trận và tổ chức thành viên thực sự là cầu nối tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, chính quyền với Nhân dân. Với quyết tâm chính trị, sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Đảng bộ, chính quyền địa phương và những kết quả đạt được trong thời gian qua, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và công cuộc phát triển quê hương tiếp tục được khẳng định, khối đại đoàn kết toàn dân luôn củng cố, đề cao và phát huy, góp phần xây dựng và phát triển quê hương Quảng Trị anh hùng.
Một số chỉ tiêu đạt được so với đầu nhiệm kỳ trước: tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,12%, tăng 0,42%; tổng sản phẩm trong tỉnh đạt 19.501,5 tỷ đồng, tăng 62%; thu nhập bình quân đầu người đạt 43,6 triệu đồng, tăng 62,%; tổng thu ngân sách đạt 2.597 tỷ đồng, tăng 34,5%; tổng vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh đạt 14.000 tỷ đồng, tăng gần 600%; tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh hiện nay là 3.482, tăng 38,2%. Toàn tỉnh hiện có 110 dự án đầu tư vào các KCN, KKT với tổng mức đầu tư 8.782 tỷ đồng, tăng 5 dự án và 431 tỷ đồng đầu tư so với năm 2013...
Với những thành tựu, kết quả đã đạt được, Đại hội nhiệt liệt biểu dương và ghi nhận sự đóng góp quan trọng của các giai cấp, tầng lớp Nhân dân.
Giai cấp công nhân với hơn 37 nghìn người, chiếm khoảng 5,9% dân số, trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước là 3.379 người; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 33.718 người. Là giai cấp tiên phong, lực lượng nồng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo sự đột phá trong công cuộc đổi mới và phát triển quê hương. Mong muốn Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành tập trung phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động; tăng cường kỷ cương pháp luật, nhất là các chế độ, chính sách đối với người lao động.
Giai cấp nông dân Quảng Trị là lực lượng đông đảo trong xã hội, với khoảng 440 nghìn người sống chủ yếu ở nông thôn, chiếm gần 70% dân số, có vai trò, vị trí quan trọng trong khối liên minh với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức trong xây dựng và phát triển quê hương. Tập hợp sinh hoạt trong 141 tổ chức cơ sở Hội với 93.640 hội viên, luôn đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính quyền. Nông dân đang băn khoăn với tình trạng thiếu việc làm, thiếu đất sản xuất, sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, sức cạnh tranh thấp, chưa bền vững.
Đội ngũ trí thức trong những năm qua không ngừng được phát triển với 80.117 người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên, chiếm 12,7% dân số, trong đó có hơn 10.300 người đang tham gia sinh hoạt tại các tổ chức hội thuộc Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh. Là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, xã hội và phát triển kinh tế tri thức. Trí thức Quảng trị mong muốn được tạo dựng môi trường làm việc thuận lợi, với các chính sách hấp dẫn, tạo động lực, thu hút nhân tài, phát triển quê hương.
Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Quảng Trị hiện nay có 28.902 người, chiếm 8,3% lực lượng lao động toàn tỉnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn nêu cao tinh thần, thái độ phục vụ và gắn bó mật thiết với Nhân dân; tham mưu, quản lý, lãnh đạo, điều hành hoạt động của cả hệ thống chính trị, tham gia trực tiếp và đóng góp tích cực trên tất cả các lĩnh cực kinh tế - xã hội của địa phương. Đặt niềm tin vào những chủ trương đổi mới mạnh mẽ, những quyết sách đúng đắn, phù hợp trong triển khai thực hiện phát triển kinh tế - xã hôi của tỉnh.
Đội ngũ doanh nhân Quảng Trị có sự phát triển mạnh mẻ trong những năm gần đây, là lực lượng đóng vai trò quan trọng, chủ yếu trong thúc đẩy tăng trưởng và phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo và phát triển cộng đồng. Toàn tỉnh có 3.482 doanh nghiệp, thu hút, giải quyết hơn 37 nghìn lao động. Doanh nhân mong muốn cấp ủy, chính quyền tiếp tục đồng hành với doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kịp thời giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp.
Thanh niên Quảng Trị với 121.900 người, chiếm 19,3% dân số và 34,9% lực lượng lao động, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, có hoài bão, ý chí, năng động, sáng tạo, cống hiến trí tuệ và sức trẻ xây dựng và phát triển quê hương; đại bộ phận thanh niên có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, có nhiều hành động thiết thực vì cộng đồng. Khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo sẽ là nhu cầu bức thiết của thanh niên trong thời gian tới, tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, khó khăn trong hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp, xây dựng các mô hình kinh tế đang là áp lực lớn đối với thanh niên.
Phụ nữ toàn tỉnh hiện có 313.413 người, với 160.862 người trong độ tuổi lao động, chiếm hơn 51,33% lao động toàn tỉnh, có vị trí, vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội. Phát huy phẩm chất đạo đức “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” phụ nữ Quảng Trị đã năng động, vượt khó vươn lên, đóng góp tích cực, có trách nhiệm và hiệu quả trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, định kiến giới trong gia đình và xã hội vẫn tồn tại trở thành lực cản đối với sự phát triển của phụ nữ. Phụ nữ Quảng Trị mong muốn được sống trong môi trường an toàn và phát triển toàn diện, có những chính sách hỗ trợ đối với nhóm phụ nữ yếu thế, đồng thời thực hiện tốt hơn chính sách về bình đẳng giới.
Cựu Chiến binh Quảng Trị có 32.431 hội viên tham gia sinh hoạt trong 229 tổ chức cơ sở Hội, chiếm 5,14% dân số toàn tỉnh. Phát huy bản chất cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ”, mỗi cựu chiến binh là một tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, ý chí tự lực, tự cường cho thế hệ trẻ; đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, phòng, chống tham nhũng, kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, hành động phá hoại, chống phá cách mạng, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Lực lượng vũ trang Nhân dân Quảng Trị tiếp tục kế thừa, phát huy tinh thần yêu nước và nghệ thuật quân sự các thế hệ đi trước, luôn gắn bó máu thịt với Nhân dân, trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và chế độ, là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biên giới, lãnh thổ quốc gia và xây dựng thế trận lòng dân; đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm, xây dựng lực lượng vững mạnh toàn diện, tích cực tham gia xây dựng, củng cố khối đại đoàn đoàn kết toàn dân.
Người cao tuổi Quảng Trị có 89.324 người, chiếm 14,1% dân số toàn tỉnh, luôn nêu cao tinh thần “tuổi cao-gương sáng”, “Tuổi già nhưng chí không già”, là nguồn động viên, khích lệ tinh thần, giáo dục con cháu thi đua học tập, lao động sáng tạo, xây dựng nếp sống văn minh. Người cao tuổi mong muốn tăng cường các hoạt động chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần để người cao tuổi được sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc, phát huy tích cực vai trò, uy tín và kinh nghiệm đóng góp cho gia đình và xã hội.
Đồng bào dân tộc thiểu số Quảng Trị có khoảng hơn 80 nghìn người, chiếm 12,6% dân số toàn tỉnh (chủ yếu là Vân Kiều, Pa Cô), có đóng góp tích cực trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định an ninh trật tự và giữ gìn chủ quyền biên giới quốc gia; đời sống vật chất, tinh thần, trình độ dân trí ngày càng được cải thiện, văn hóa truyền thống được tôn trọng, gìn giữ và phát huy. Khó khăn lớn nhất của đồng bào là điều kiện ăn ở, sinh hoạt và sản xuất, đồng bào mong muốn tiếp tục được ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, hỗ trợ, tạo điều kiện ổn định cuộc sống.
Đồng bào tôn giáo Quảng Trị hiện có khoảng hơn 100 nghìn người với 03 tôn giáo chính là Phật giáo, Công giáo và đạo Tin lành, chiếm khoảng 16% dân số, luôn gắn bó, đoàn kết trong khối đại đoàn kết toàn dân với nhiều hoạt động nhân đạo, từ thiện, sống “Tốt đời, đẹp đạo”, đồng hành cùng địa phương. Đồng bào tôn giáo mong muốn các hoạt động, lễ nghi được diễn ra với tinh thần thượng tôn pháp luật và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, không bị lợi dụng, lôi kéo, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Cộng đồng người Quảng Trị ở nước ngoài có khoảng hơn 3.400 người, chủ yếu sinh sống, làm việc và định cư tại Mỹ, Úc, Canada, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và một số quôc gia, vùng lãnh thổ khác, đang nổ lực lao động, học tập, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa của quê hương. Với tiềm năng ngày càng lớn mạnh, kiều bào Quảng Trị mong muốn tiếp tục tham gia đóng góp tích cực trong xây dựng và phát triển quê hương.
Phát huy vai trò, tiềm năng, sức sáng tạo của người dân, động viên Nhân dân tích cực tham gia các cuộc vận động và phong trào thi đua yêu nước, ổn định chính trị-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, chất lượng thu hút các tầng lớp Nhân dân tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp cùng với đổi mới cơ chế, phương thức hoạt động của các tổ chức thành viên trong những năm qua đã có bước phát triển mạnh mẻ([1]).
Bên cạnh những mặt tích cực là cơ bản, Nhân dân toàn tỉnh vẫn còn băn khoăn, lo lắng khi kinh tế tỉnh nhà vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức; công tác quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng đơn thư khiếu kiện vượt cấp, kéo dài; một số vụ việc khiếu nại, tố cáo giải quyết thiếu kịp thời, chưa nghiêm, chưa dứt điểm; tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống, tội phạm và tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp, chưa được ngăn chặn và đẩy lùi; biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm khó kiểm soát… Cùng với đó, hoạt động chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch thường xuyên diễn ra nhằm gây mất ổn định tình hình, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.
Với tinh thần “Đoàn kết, dân chủ, đồng thuận và phát triển”, tại Đại hội này, chúng ta tin tưởng, khẳng định và quyết tâm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, đồng lòng, đồng sức cùng Đảng bộ, chính quyền xây dựng Quảng Trị phát triển nhanh và bền vững.
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA MTTQ VIỆT NAM TỈNH QUẢNG TRỊ, NHIỆM KỲ 2014 – 2019
1. Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp Nhân dân, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
Mặt trận và các tổ chức thành viên đã đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động, tập hợp, đoàn kết rộng rải các tầng lớp Nhân dân, hoạt động phối hợp với các cấp chính quyền, các ngành truyền thông, thông tin, kết hợp với triển khai các cuộc vận động và phong trào thi đua, tạo sự đồng thuận, thống nhất và ổn định xã hội, thực hiện thắng lợi các chương trình, mục tiêu kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phương.
Triển khai hiệu quả Đề án 01 “về đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền của MTTQ Việt Nam”, đổi mới nội dung, hình thức, tăng cường các giải pháp tuyên truyền, chuyển tải, vận động Nhân dân chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương, trọng tâm là Hiến pháp sửa đổi 2013; Luật Mặt trận, Luật Bầu cử 2015; Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp; các nhiệm vụ, chương trình phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của tỉnh. Nâng cao chất lượng phối hợp trong thực hiện các chuyên mục “Đại đoàn kết”, “Người Việt-Hàng Việt”, chuyên trang Báo “Mặt trận và cuộc sống”, Bản tin Công tác, Website và các ấn phẩm của Mặt trận và tổ chức thành viên. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp, kỷ niệm 70 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc, 85 năm ngày truyền truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt nam, các dịp lễ, kỷ niệm ngày truyền thống, Đại hội nhiệm kỳ của tổ chức thành viên…
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên của Mặt trận và các tổ chức thành viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân với nhiều hình thức sinh động, sáng tạo và thiết thực. Thực hiện hiệu quả nhiệm vụ “Mặt trận lắng nghe ý kiến của Nhân dân”, tập hợp ý kiến, nguyện vọng, hiến kế của Nhân dân để phản ánh, tăng cường và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy Đảng, chính quyền. Hoạt động phối hợp giáo dục truyền thống và phát huy tinh thần yêu nước, tuyên truyền hướng về biển, đảo, công tác biên giới trên đất liền được quan tâm thực hiện. ([2])
Thực hiện đoàn kết đồng bào các dân tộc, tôn giáo gắn với Kết luận số 01 và 02 của Đoàn Chủ tịch UBTWMTTQ Việt Nam về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận trong công tác dân tộc, tôn giáo. Mặt trận và tổ chức thành viên chủ động, tích cực phối hợp nắm bắt tình hình, giải quyết các nhu cầu chính đáng, đúng Pháp luật của các tôn giáo; thường xuyên quan tâm, gần gũi, thăm hỏi, động viên, đối thoại, trao đổi thông tin với các chức sắc, chức việc các tôn giáo, người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào các dân tộc; xây dựng mô hình “phát huy vai trò của các tín đồ tôn giáo trong xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, từng bước phát huy vai trò, trách nhiệm và sự đóng góp của đồng bào các dân tộc, tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.([3])
Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân ở khu dân cư hàng năm được duy trì tổ chức nền nếp, rộng khắp, có nhiều nét mới và thiết thực, trở thành phương thức điển hình tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh cộng đồng, tạo sự đoàn kết, gần gũi, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Sau 15 năm triển khai, hàng năm luôn có trên 98% khu dân cư tổ chức ngày hội, thu hút hơn 50 vạn lượt người tham gia. Tại ngày Hội, các khu dân cư tiến hành biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân, gia đình tiêu biểu; hỗ trợ, động viên các gia đình, đối tượng khó khăn vươn lên trong cuộc sống; phát động giao ước thi đua, tổ chức bữa cơm đại đoàn kết… đã khích lệ, khơi dậy tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái trong Nhân dân.
Tuy nhiên, công tác nắm bắt tình hình, định hướng dư luận ở một số địa phương chưa thực sự hiệu quả, chưa tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của Nhân dân, nhất là đối với một số vấn đề nổi cộm, bức xúc như tranh chấp đất đai, địa giới hành chính, giải phóng mặt bằng... Hiệu quả phối hợp, vai trò kết nối của Mặt trận đối với cấp ủy, chính quyền một số nơi chưa được tốt, nhất là  việc tổng hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân và công tác tham mưu, đề xuất.
2. Phát huy tinh thần sáng tạo và tự quản của Nhân dân, triển khai các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước
Các cuộc vận động và phong trào thi đua của Mặt trận và các tổ chức thành viên được triển khai đồng bộ, phát huy sức mạnh người dân trong xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân cơ bản được nâng lên.
Kế thừa và phát huy những kết quả đạt được trong 20 năm thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” trên địa bàn([4]), năm 2016, UBMT tỉnh đã chủ động ban hành các văn bản hướng dẫn và phối hợp tổ chức Lễ phát động Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” giai đoạn 2016-2020 và nhận được sự tham gia, hưởng ứng tích cực của các cấp, các ngành, các địa phương và Nhân dân. Trọng tâm cuộc vận động là chỉnh trang nông thôn, xây dựng văn minh đô thị và giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, lấy sức dân để chăm lo cho Nhân dân. UBMT tỉnh đã ký kết, triển khai chương trình phối hợp với UBND tỉnh “về thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” giai đoạn 2017-2020. Mặt trận và tổ chức thành viên vận động Nhân dân hiến đất, hiến công, đóng góp các nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông nông thôn, phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, cộng đồng dân cư văn minh, phát triển hài hòa, bảo vệ môi trường và chấp hành pháp luật với nhiều mô hình khu dân cư nông thôn kiểu mẫu, tổ tự quản Nhân dân được xây dựng và nhân rộng([5]). Đồng thời, Mặt trận thực hiện Quy trình và phối hợp giám sát, đánh giá, lấy ý kiến về sự hài lòng của người dân đối với kết quả xây dựng nông thôn mới, nâng cao chất lượng bình xét, công nhận nông thôn mới tại các địa phương. Đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng hơn 355 mô hình nông thôn kiểu mẫu, tổ tự quản trong cộng đồng dân cư([6]); 48/117 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 41% số xã, tăng 45 xã so với năm 2014, 05/24 phường, thị trấn được công nhận phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị([7]).
Công tác hỗ trợ, chăm lo người nghèo và các đối tượng khó khăn nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh. Mặt trận và các tổ chức thành viên thực hiện đổi mới hình thức vận động, phương thức hỗ trợ, giúp đỡ theo hướng vừa trực tiếp vận động, vừa hướng dẫn, kết nối các nhà hảo tâm với các địa phương, đối tượng khó khăn; tập trung hỗ trợ sinh kế phát triển sản xuất, kinh doanh thoát nghèo bền vững; chủ trì, phối hợp hiệp thương phân công, ủy thác cho đoàn thể chính trị-xã hội giúp đỡ hộ gia đình thoát nghèo theo địa chỉ cụ thể gắn với phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo-không để ai bị bỏ lại phía sau”…
5 năm qua, Quỹ “Vì người nghèo” các cấp trong tỉnh huy động được: 98.119.450.000 đồng (cấp tỉnh 38.260.370.000 đồng, cấp huyện 26.268.410.000đ đồng, cấp xã 33.590.670.000đ đồng), tăng 5,7%(5,3 tỷ). Trong đó, hỗ trợ xây dựng mới 1.404 nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo, trị giá 53.184,5 triệu đồng, tăng 38.389,8 triệu đồng (259%); hỗ trợ sữa chữa nhà ở cho 472 hộ gia đình nghèo, trị giá 4.018,1 triệu đồng, tăng 742,7 triệu đồng (26,7%); hỗ trợ phát triển sản xuất cho 604 hộ gia đình, trị giá 3.073,3 triệu đồng, tăng 2.888,58 triệu đồng (1.562%); hỗ trợ cho 3.302 lượt em học sinh nghèo vượt khó học giỏi, trị giá 1.249,46 triệu đồng, tăng 195,76 triệu đồng (18,6%); hỗ trợ khó khăn đột xuất cho 57.478 lượt đối tượng, trị giá 22.587,9 triệu đồng, tăng 21.947,45 (3.427%); hỗ trợ khám chữa bệnh cho 2.542 người, trị giá 2.369 triệu đồng, tăng 844,53 triệu đồng (55,4%)… so với nhiệm kỳ trước([8]).
Nhân dịp Tết Nguyên Đán hàng năm, trong 5 năm, Chương trình “Nối vòng tay nhân ái” đã vận động, trao tặng 114.668 suất quà Tết, với tổng giá trị 54,51 tỷ đồng; hỗ trợ 512,55 tấn gạo, 20 tấn gạo nếp cho các hộ nghèo, nạn nhân chất độc da cam, người khuyết tật và trẻ mồ côi, gia đình bị ảnh hưởng thiên tai, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh… Qua đó, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh xuống còn 9,68%, giảm 5,75% so với đầu năm 2016 (chuẩn nghèo mới). Mặt trận và các tổ chức thành viên đã chủ động kêu gọi, phát động, vận động, hỗ trợ đồng bào gặp hoạn nạn, thiên tai và các sự cố nghiêm trọng gây ra, tổng số tiền vận động, tiếp nhận, phân bổ, hỗ trợ cấp tỉnh trên 36 tỷ đồng([9]). Đặc biệt, sau sự cố môi trường do Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa gây ra, UBMT tỉnh đã phối hợp, hỗ trợ và xây dựng thành công 16 mô hình chuyển đổi sinh kế cho người dân 14 xã và 02 thị trấn vùng biển bước đầu mang lại hiệu quả tích cực.
Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” được phối hợp triển khai hiệu quả, tạo sự đồng thuận, tham gia hưởng ứng của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và Nhân dân. Hoạt động thông tin, truyền thông, quảng bá hàng hóa, dịch vụ thương hiệu Việt và các sản phẩm địa phương, đấu tranh, phê phán các hành vi gian lận thương mại, sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng được lồng ghép với các Cuộc vận động và phong trào thi đua yêu nước của Mặt trận và tổ chức thành viên, tạo chuyển biến trong nhận thức của người dân, người tiêu dùng. Phối hợp ngành công thương triển khai Đề án Phát triển thị trường trong nước giai đoạn 2014 - 2020”, mô hình thí điểm Điểm bán hàng với tên gọi “Tự hào hàng Việt Nam”, nhiều hoạt động kết nối sản phẩm, xây dựng thương hiệu hàng hóa Quảng Trị được phối hợp triển khai thực hiện có hiệu quả([10]).
Phong trào “Đoàn kết sáng tạo” do UBTWMTTQ Việt Nam phát động đã và đang được Mặt trận và tổ chức thành viên chủ động, tích cực xây dựng và triển khai gắn với các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước và nhiệm vụ chính trị của tổ chức và địa phương, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo của các tầng lớp Nhân dân, ra sức thi đua, lao động, sản xuất, góp phần xây dựng và phát triển quê hương.([11])
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai các cuộc vận động, phong trào thi đua ở một số đơn vị, địa phương vẫn còn mang tính hình thức, chưa phát huy tối đa vai trò chủ thể của người dân; hoạt động tham gia xây dựng đô thị văn minh của Mặt trận và tổ chức thành viên chưa rõ nét, thiếu cụ thể.
3. Phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh
Nhiệm kỳ 2014-2019, giám sát và phản biện xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, là bước phát triển mới, có tính đột phá trong công tác đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tăng cường đồng thuận xã hội.
Ban Thường trực UBMT tỉnh đã tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Quyết định “về quy định trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền trong tiếp thu, giải quyết kiến nghị của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân sau giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”; chủ trì đề tài khoa học “Phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay”; triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư”; phối hợp tổ chức 02 Hội thảo khoa học về “thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”, “nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp xúc cử tri đại biểu HĐND các cấp và giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri”.
Vận động Nhân dân tham gia, đóng góp ý kiến xây dựng văn kiện Đại hội Đảng các cấp, tổ chức, phối hợp tham gia các diễn đàn đối thoại Nhân dân, tiếp xúc cử tri, tuyên truyền, chuyển tải các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và địa phương; tham gia xây dựng chính sách pháp luật, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với giám sát quá trình tổ chức, triển khai và đánh giá sự hài lòng của người dân đối với các cơ quan nhà nước([12]). Mặt trận và tổ chức thành viên chủ động phối hợp, hoàn thành tốt nhiệm vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, vận động Nhân dân tích cực hưởng ứng, tham gia bầu cử, phát huy dân chủ trong xây dựng chính quyền địa phương với tỷ lệ 99,4% cử tri tham gia bầu cử.([13]).
Tập trung thực hiện hiệu quả vai trò giám sát, phản biện xã hội theo Quyết định 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị, nâng cao chất lượng tham gia giám sát với Đoàn đại biểu Quốc hội, HĐND và các ngành chức năng. Từ năm 2014 đến nay, Mặt trận và tổ chức thành viên đã chủ trì, phối hợp triển khai 465 cuộc giám sát chuyên đề([14]); UBMT các cấp tổ chức 52 hội nghị phản biện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương (tỉnh: 7; huyện: 45); tham gia đóng góp ý kiến 35 dự thảo Luật, 630 dự thảo các văn bản Quy phạm pháp luật (tỉnh: 357; huyện 146; xã: 127), thẩm định 86 Đề án, dự án về chủ trương đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức lấy ý kiến và tiếp thu 369 ý kiến vào Văn kiện Đại hội Đảng các cấp. UBMT tỉnh phối hợp với Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực và các Ban HĐND tỉnh giám sát, khảo 107 cuộc; phối hợp với VKSND tỉnh tổ chức 51 cuộc kiểm tra, giám sát.
Triển khai “Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc thực hiện phòng, chống tham nhũng, lãng phí, giai đoạn 2018 - 2020” gắn với Nghị quyết Trung 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Thực hiện tốt công tác vận động Nhân dân tham gia phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, kịp thời tiếp nhận, xử lý, phản ánh ý kiến, kiến nghị, tố giác, phát huy sức mạnh của Nhân dân trong thực hiện quy chế dân chủ và hoạt động hoà giải ở cơ sở, tạo dư luận mạnh mẻ, tích cực, nâng cao ý thức cộng đồng trong tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Trong nhiệm kỳ, UBMT các cấp đã tiếp nhận 99 đơn, trong đó có 19 đơn tố cáo, 15 khiếu nại và 65 đơn kiến nghị, phản ánh; đã xử lý, chuyển 82/99 đơn đủ điều kiện giải quyết. Các Ban TTND, Ban GSĐTCCĐ giám sát 2.206 vụ việc, phát hiện, kiến nghị và đã được giải quyết 607/707 vụ việc; giám sát 3.905 dự án, công trình, phát hiện và kiến nghị xử lý 635 vụ việc. 100% xã, phường, thị trấn có tổ hoà giải hoạt động hiệu quả; trên 85% Ban TTND và Ban GSĐTCCĐ hoạt động khá, vượt 5% chỉ tiêu Nghị quyết.
Tuy nhiên, công tác giám sát và phản biện xã hội nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu, chưa phát huy hết vai trò hệ thống Mặt trận và Nhân dân. Bên cạnh đó, phạm vi, đối tượng, yêu cầu giám sát và phản biện xã hội lớn, trong khi đó, cơ chế, nguồn lực và điều kiện của Mặt trận còn nhiều hạn chế; nhận thức và trách nhiệm của một số đối tượng được giám sát còn biểu hiện chưa đúng, chưa đầy đủ; chất lượng xử lý các kiến nghị, đề xuất của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội sau giám sát còn nhiều hạn chế, bất cập.
4. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại Nhân dân, bảo vệ biên giới quốc gia, tăng cường đoàn kết hữu nghị và hợp tác quốc tế
Duy trì và phát triển tích cực quan hệ đối ngoại với tổ chức Mặt trận và các đoàn thể Nhân dân 2 tỉnh bạn Lào có chung đường biên giới, các đối tác, dự án, tổ chức nước nước ngoài, tổ chức phi chính phủ hoạt động tại địa phương; tăng cường các hoạt động phối hợp bảo vệ đường biên giới lãnh thổ quốc gia, biển đảo thiêng liêng của tổ quốc, phục vụ tốt cho công cuộc đổi mới và phát triển quê hương.
Mặt trận và tổ chức thành viên phối hợp tổ chức các hoạt động tuyên tuyền kỷ niệm 55 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Lào, 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Campuchia; chủ động triển khai “Chương trình đối ngoại Nhân dân và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, giai đoạn 2016-2019”; tích cực tuyên truyền, đấu tranh chống sự xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch và phần tử phản động. Phát huy vai trò đóng góp của già làng, trưởng bản, người có uy tín, xây dựng và nhân rộng các mô hình trong phong trào "Quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc và giữ gìn an ninh trật tự ở thôn, bản khu vực biên giới", “Thôn bản không có ma túy”; duy trì các mô hình “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”, “Mái ấm chiến sĩ nơi biên giới”; "Tổ tự quản đường biên, mốc giới", “tổ tự quản tàu thuyền bến bãi”, "tổ đoàn kết trên biển”…
Tổ chức tốt hoạt động trao đổi đoàn, thăm hỏi, hỗ trợ Nhân dân 02 tỉnh Savanakhet và Salavan (Lào). UBMT tỉnh duy trì, phát huy mối quan hệ, hợp tác với UBMT Lào xây dựng đất nước 02 tỉnh Savanakhet và Salavan; tập trung nâng cao chất lượng chương trình “Kết nghĩa Bản-Bản” với 24 cặp bản thuộc Quảng Trị (Việt Nam) và Savanakhet, Salvan (Lào); tiếp tục duy trì đội hình thanh niên tình nguyện tham gia giữ gìn đường biên, cột mốc dọc tuyến biên giới giữa Hướng Hóa (Quảng Trị) và Nòng (Savanakhet); phát động các tổ chức nhận đỡ đầu, kết nghĩa với các xã biên giới còn nhiều khó khăn, đẩy mạnh các hoạt động an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào hai bên biên giới.([15])
Duy trì và phát huy hiệu quả phối hợp với các tổ chức, đối tác, nâng cao chất lượng huy động các nguồn lực từ bên ngoài nhằm giải quyết một số vấn đề cấp bách liên quan đến an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế, cải cách hành chính, nổi bật có các chương trình, dự án phối hợp với tổ chức DOVE Fund (Hoa Kỳ), tổ chức VIFI (CHLB Đức), tổ chức Y tế vì Hòa bình (Hàn Quốc), Dự án phát triển dọc hành lang Tiểu vùng sông Mêkông tỉnh Quảng Trị, Dự án Oxfam, Dự án PAPI, Dự án “Dân chấm điểm M-Score”, Dự án rà phá bom mìn MAG…
Tuy nhiên, hiệu quả phối hợp, thống nhất hành động của Mặt trận và các tổ chức thành viên trong hoạt động đối ngoại Nhân dân những năm qua đang còn nhiều hạn chế, riêng lẻ, nội dung, hình thức chưa được đổi mới, hiệu quả chưa cao.
5. Hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống MTTQ Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới
Nhiệm kỳ qua, cơ chế, phương thức hoạt động Mặt trận có nhiều đổi mới, hoàn thiện, bổ sung, mang tính chiến lược, đảm bảo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, nhiều chủ trương, chính sách mới đối với hoạt động, công tác Mặt trận được ban hành, triển khai, phát huy vai trò và sự đóng góp của hệ thống tổ chức liên minh chính trị, tạo động lực xây dựng và phát triển quê hương.
Chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy ban hành các văn bản nhằm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác Mặt trận, các tổ chức chính trị-xã hội, xã hội-nghề nghiệp. Triển khai Kế hoạch số 86-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 18-CT/TU “Về việc lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong tỉnh nhiệm kỳ 2019 - 2024”. Đặc biệt, hàng năm, Mặt trận và tổ chức thành viên chủ động đề xuất, đăng ký nội dung và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả cam kết của tập thể và người đứng đầu với Ban Thường vụ cấp ủy cùng cấp.
Hoàn thiện nội dung, cách thức phối hợp với các cấp chính quyền, các ngành chức năng trong xây dựng và triển khai các quy chế liên ngành, chương trình phối hợp, đảm bảo các văn bản quy phạm pháp luật và điều kiện cho hoạt động, công tác Mặt trận. Các chương trình phối hợp thực hiện hoạt động giám sát, phản biện xã hội, xây dựng Đảng, chính quyền, phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh được thực hiện theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, thường xuyên rà soát đánh giá, kịp thời bổ sung, điều chỉnh. Đổi mới phương thức phối hợp giữa Mặt trận và các tổ chức thành viên trên cơ sở tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động, phát huy vị trí chủ trì, liên minh chính trị của Mặt trận cũng như vai trò, thế mạnh của tổ chức thành viên. Công tác hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá thi đua khen thưởng được tổ chức chặt chẻ, nghiêm túc, đảm bảo dân chủ, kịp thời động viên, khích lệ, biểu dương các điển hình tiên tiến, tạo động lực phấn đấu, thi đua sôi nổi trong cán bộ và Nhân dân([16]). 100% UBMT cấp xã có quy chế phối hợp và đảm bảo thực hiện tốt mối quan hệ công tác với HĐND, UBND cùng cấp, trong đó có trên 70% hoạt động có hiệu quả.
Tập trung làm tốt công tác kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động, chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Triển khai thực hiện Đề án "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp, nhất là cấp cơ sở”, cơ cấu tổ chức, vị trí, chức danh từng bước được điều chỉnh, tinh gọn theo hướng chuyên sâu, phân rỏ trách nhiệm, chú trọng chất lượng tham mưu, đề xuất; một số đơn vị đã thực hiện Trưởng Ban Dân vận là Chủ tịch UBMT cấp huyện. Phong cách, lề lối làm việc có nhiều chuyển biến tích cực, tình trạng hành chính hóa công tác Mặt trận dần khắc phục; hoạt động các Hội đồng tư vấn, Ban tư vấn, Ban Công tác Mặt trận khu dân cư được tăng cường. 100% UBMT các cấp hoàn thành nhiệm vụ, trong đó, 85% đạt loại khá trở lên, vượt 15% chỉ tiêu; 85% Ban Công tác Mặt trận hoạt động giỏi, vượt 35% chỉ tiêu.
Tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động của hệ thống Mặt trận trong nhiệm kỳ qua đã có nhiều đổi mới mạnh mẽ, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập lúng túng, thiếu đồng bộ trong thực tiễn; công tác hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực hoạt động Mặt trận còn chậm và gặp nhiều khó khăn; tính ổn định của cán bộ chuyên trách Mặt trận và các hội, đoàn thể chưa cao.
III.  KẾT QUẢ NỔI BẬT, HẠN CHẾ - KHUYẾT ĐIỂM, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Kết quả nổi bật và nguyên nhân
1.1. Kết quả nổi bật
Nhiệm kỳ qua, khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, tăng cường và phát huy, đồng thuận xã hội được nâng cao. Giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền đã khẳng định những tín hiệu tích cực trong đổi mới công tác Mặt trận, phát huy dân chủ, được Nhân dân và dư luận quan tâm. Các cuộc vận động, phong trào thi đua được tích cực phối hợp triển khai, phát huy tiềm năng, động viên Nhân dân và cộng động tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và an sinh xã hội. Việc đổi mới mạnh mẽ trong hoàn thiện cơ chế, nội dung phương thức hoạt động đã đánh dấu một bước tiến quan trọng của Mặt trận trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Mặt trận và tổ chức thành viên có những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của địa phương.
1.2. Nguyên nhân: Mặt trận đã chủ động bám sát và tranh thủ tối đa sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, sự phối hợp với chính quyền các cấp; sự chủ động, sáng tạo của các tổ chức thành viên, nhất là trong hiệp thương phối hợp và thống nhất hành động; sự nỗ lực, quyết tâm của đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở. Hoạt động của Mặt trận có nhiều nét mới, thu hút sự quan tâm, hưởng ứng của toàn xã hội; vai trò, vị trí của Mặt trận ngày càng được nâng lên.
2. Hạn chế - khuyết điểm, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm
2.1. Hạn chế - khuyết điểm
Những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ qua là cơ bản, tuy nhiên, công tác Mặt trận vẫn còn một số hạn chế, yếu kém. Nội dung, hình thức và hiệu quả vận động, tập hợp các tầng lớp Nhân dân chưa đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thời kỳ mới; chất lượng, tầm ảnh hưởng và tác động của các cuộc vận động và phong trào thi đua vẫn chưa đủ sức tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức, hành động và đời sống của Nhân dân; hoạt động giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền ở nhiều địa phương đang còn rất lúng túng, bị động; công tác cán bộ, tổ chức bộ máy nhìn chung chưa ngang tầm với nhiệm vụ hiện nay.
2.2. Nguyên nhân
Nguyên nhân khách quan: Một số nội dung, nhiệm vụ công tác mới được triển khai trong nhiệm kỳ, Mặt trận vừa tổ chức, thực hiện, vừa rút kinh nghiệm. Việc sắp xếp, tổ chức bộ máy cán bộ chưa có sự thống nhất cao, chưa chủ động và còn lúng túng; điều kiện, cơ chế hoạt động, chính sách đãi ngộ, công tác quy hoạch, đào tạo, cân nhắc, bổ nhiệm cán bộ trong hệ thống Mặt trận nhìn chung còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa tạo động lực, sức thu hút.
Nguyên nhân chủ quan: Chất lượng phối hợp tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền chưa cao, thiếu chủ động, sáng tạo. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn của Mặt trận chưa đảm bảo chất lượng, hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ hiên nay, nhiều nơi, còn mang tính hình thức, thực hiện theo kế hoạch.
2.3. Bài học kinh nghiệm
Thứ nhất, đảm bảo tăng cường sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng đối với hoạt động, công tác Mặt trận là yếu tố quan trọng hàng đầu, nhất là các cơ chế, chủ trương, chính sách, điều kiện đảm bảo, với mục tiêu chung là xây dựng và phát triển quê hương;
Thứ hai, thực hiện hiệu quả nguyên tắc phối hợp và thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên trong Mặt trận Tổ quốc; đổi mới sáng tạo nội dung, phương thức, hình thức phối hợp với các cấp chính quyền, các ngành chức năng trong triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tạo động lực và nguồn lực phát triển quê hương;
Thứ ba, tập trung củng cố, tăng cường và phat huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, làm tốt vai trò đại đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, phải lắng nghe, phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của người dân, làm cơ sở để xây dựng, triển khai các chủ trương, chính sách tại địa phương;
Thứ tư, chú trọng chăm lo xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận, năng lực, uy tín của cán bộ, đổi mới phương thức hoạt động phù hợp, hiệu quả là yếu tố quan trọng trong nâng cao chất lượng công tác Mặt trận;
Thứ năm, lựa chọn nội dung triển khai có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên nhiệm vụ mang tính cốt lõi, nét mới theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị và xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội và nhân dân; tập trung hướng hoạt động về cơ sở, bám sát thực tiễn, nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân và cộng đồng dân cư, nhất là các vấn đề nổi cộm, bức xúc để kịp thời phối hợp tham mưu, đề xuất cũng như xây dựng chương trình, kế hoạch công tác phù hợp, hiệu quả.
Phần thứ hai
MỤC TIÊU, CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỈNH QUẢNG TRỊ NHIỆM KỲ 2019 – 2024
Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, tuy nhiên, hòa bình, hợp tác, cùng phát triển vẫn là xu thế lớn trong thời gian tới. Các quan hệ quốc tế theo cục diện thế giới đa cực và dân chủ hóa ngày càng phát triển; xung đột sắc tộc, tôn giáo, chính trị, tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo, khủng bố vẫn đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ; quá trình toàn cầu hóa, an ninh mạng, biến đổi khí hậu, môi trường… trở nên phức tạp, gay gắt, tác động trực tiếp và gián tiếp đến tình hình đất nước và địa phương, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của Nhân dân. Châu Á - Thái Bình Dương, Đông Nam Á vẫn sẽ là khu vực phát triển năng động, là điểm đến thu hút nhiều nhà đầu tư trên thế giới, đồng thời cũng là khu vực chứa đựng nhiều nhân tố gây mất ổn định.
Trong nước và địa phương với xu thế tích cực là chủ đạo, triển vọng kinh tế tiếp tục khả quan, tăng trưởng kinh tế, môi trường kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định tạo thuận lợi cho việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế-xã hội; niềm tin đối với những cải cách về môi trường đầu tư, kinh doanh được củng cố, uy tín vị thế trên trường quốc tế ngày càng được cải thiện và nâng cao. Kinh tế của tỉnh tăng trưởng khá so với mức bình quân chung của cả nước, hoạt động xúc tiến đầu tư được đổi mới, tạo bước đột phá trong tư duy và hành động, nhiều dự án trọng điểm, thiết yếu đã và đang được triển khai thực hiện. Từ năm 2019, Việt Nam bắt đầu thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đã ký kết, nhất là cam kết mở cửa, hội nhập sẽ mang lại cơ hội thu hút các nguồn lực đầu tư, nhưng cũng là áp lực cạnh tranh không nhỏ đối với sản xuất, kinh doanh trong nước và các địa phương; Quảng Trị cũng bắt đầu xúc tiến triển khai xây dựng nhiều dự án lớn, công trình trọng điểm đã được phê duyệt.
Bên cạnh những thuận lợi và cơ hội phát triển, nền kinh tế vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa vững chắc; thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lường; nhu cầu đầu tư cho phát triển các ngành, lĩnh vực và các địa phương rất lớn nhưng nguồn lực còn hạn hẹp. Mặt trái của cơ chế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, sự bùng nổ công nghệ thông tin, mạng xã hội, cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị… tiếp tục là nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến khối đại đoàn kết toàn dân, tiềm ẩn nhiều rủi rỏ, cản trở đối với công cuộc xây dựng và phát triển quê hương.
Tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức của thời đại, thực hiện vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị lần thứ XII xây dựng chương trình phối hợp và thống nhất hành động nhiệm kỳ 2019 - 2024 như sau:
I. MỤC TIÊU
Tập trung hoàn thiện cơ chế, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống Mặt trận; đa dạng các hình thức tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp Nhân dân, xây dựng và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân; phát huy dân chủ, thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, giám sát và phản biện xã hội, đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy tiềm năng sáng tạo, tham gia, hưởng ứng của người dân đối với các cuộc vận động và phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, xây dựng Quảng Trị phát triển nhanh và bền vững.
Một số chỉ tiêu phấn đấu:
- 100% UBMT từ tỉnh đến cơ sở triển khai ký kết và thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp, quan hệ công tác với các cấp chính quyền.
- Hàng năm, 100% UBMT các cấp và tổ chức thành viên tổ chức ít nhất 01 cuộc giám sát chuyên đề và tham gia có hiệu quả hoạt động phản biện xã hội.
- Mỗi năm, “Quỹ vì người nghèo” các cấp trong tỉnh phấn đấu huy động được từ 18 - 20 tỷ; hỗ trợ xây dựng từ 300-350 nhà đại đoàn kết; 100% hộ nghèo, hộ chính sách được tiếp cận các nguồn hỗ trợ.
- Xây dựng thành công ít nhất 02 mô hình kiểu mẫu về phát huy vai trò và sự đóng góp của đồng bào các dân tộc, tôn giáo trong củng cố, tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân và hoạt động công tác Mặt trận, để nhân rộng.
- Phối hợp xây dựng và nhân rộng 02 mô hình kiểu mẫu trong thực hiện phong trào “Quần chúng tự quản đường biên, cột mốc và giữ gìn an ninh trật tự thôn bản ở khu vực biên giới” gắn với mô hình “Kết nghĩa Bản-Bản”.
- Phối hợp duy trì chất lượng 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới đã được công nhận; phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ, ít nhất mỗi xã nông thôn mới xây dựng thành công 01 mô hình làng quê đáng sống.
II. CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỈNH QUẢNG TRỊ, NHIỆM KỲ 2019-2024
Chương trình 1: Tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu xây dựng và phát triển địa phương
1.1. Nhiệm vụ trọng tâm
Thực hiện chức năng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa các hình thức vận động, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp Nhân dân. Tuyên truyền, vận động, nâng cao ý thức, trách nhiệm của Nhân dân trong xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; hưởng ứng, chấp hành, tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của địa phương và chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc.
Đổi mới đa dạng, linh hoạt các phương thức vận động, tập hợp, đoàn kết đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo. Tăng cường tham mưu, đề xuất, tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số; tuyên truyền, vận động tiếp xúc, thăm hỏi, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các tôn giáo, thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đúng pháp luật và phù hợp truyền thống văn hóa của dân tộc, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Phát huy vai trò, sự tham gia, đóng góp của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo, các tôn giáo, nhất là người có uy tín, già làng, trưởng bản, chức sắc, nhà tu hành, trong các cuộc vận động và phong trào thi đua, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, kích động, lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.
1.2. Những giải pháp cơ bản
Thứ nhất, tiếp tục triển khai Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về xây dựng và chỉnh đốn Đảng; đấu tranh, lên án những hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, thiếu ý thức xây dựng trong xã hội. Đổi mới, nâng cao chất lượng tổ chức Ngày hội đại đoàn kết toàn dân ở khu dân cư và các hoạt động kỷ niệm Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hằng năm, nhất là dịp kỷ niệm 90 năm ngày thành lập MTDTTN Việt Nam (18/11/1930-18/11/2020);
Thứ hai, đẩy mạnh triển khai thực hiện Đề án số 01 của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VIII về “Đổi mới công tác thông tin, tuyền truyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”. Phát huy vai trò, hiệu quả phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình; nâng cao chất lượng các bản tin công tác, Website, các kênh thông tin của Mặt trận và các tổ chức thành viên để định hướng dư luận, tuyên truyền vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên và Nhân dân;
Thứ ba, tập trung xây dựng, kiện toàn tổ chức, cơ chế, phương thức hoạt động, nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ đối với đội ngũ cộng tác viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên, làm tốt công tác nắm bắt tình hình, thu thập thông tin, tập hợp phản ánh tâm tư, nguyện vọng và ý kiến, kiến nghị của Nhân dân; tích cực phối hợp tham gia giải quyết, định hướng dư luận xã hội, nhất là những vấn đề nảy sinh, bức xúc trong cộng đồng dân cư;
Thứ tư, triển khai có hiệu quả 02 Đề án của Mặt trận tỉnh về tăng cường công tác Mặt trận Tổ quốc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2019-2021 gắn với các Kết luận số 01, 02 của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác dân tộc, tôn giáo;
Thứ năm, Phối hợp, thống nhất với các tổ chức thành viên xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam “về tuyên truyền, vận động, tập hợp, đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài chung sức xây dựng quê hương, đất nước; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”.
Chương trình 2: Vận động Nhân dân thi đua lao động sáng tạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, anh ninh của địa phương
2.1. Nhiệm vụ trọng tâm
Vận động, tạo điều kiện để Nhân dân phát huy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, sáng tạo, vượt khó, thi đua lao động, phát triển sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát huy tài năng, sáng kiến, giúp nhau giảm nghèo bền vững, vươn lên làm giàu chính đáng, tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và các hoạt động an sinh xã hội, nhân đạo từ thiện, phát triển cộng đồng. Chung tay cùng Đảng bộ, chính quyền địa phương xây dựng và phát triển quê hương, cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.
Tăng cường và phát huy vai trò tham gia đóng góp của người dân trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng cảnh quan môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp; tinh thần tự giác, gương mẫu chấp hành pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, các hoạt động tự quản, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội; xây dựng các khu dân cư phát triển bền vững, hài hòa, tạo môi trường thuận lợi nhất để Nhân dân có điều kiện thụ hưởng đầy đủ các giá trị của cuộc sống.
2.2. Những giải pháp cơ bản
Thứ nhất, nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và chương trình phối hợp giữa UBMT tỉnh với UBND tỉnh “về thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” giai đoạn 2017-2020 và những năm tiếp theo. Tập trung vận động các nguồn lực, phối hợp đề xuất điều chỉnh các tiêu chí đánh giá, các danh hiệu thi đua; tăng cường vai trò giám sát của Mặt trận trong xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm, phát triển và nhân rộng các mô hình tự quản trong cộng đồng; duy trì chất lượng các xã đạt chuẩn nông thôn mới đã được công nhận, đồng thời, xây dựng và phát triển các mô hình “Làng quê đáng sống” trên địa bàn toàn tỉnh;
Thứ hai, tiếp tục triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” theo hướng đi vào chiều sâu, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng cường các hoạt động phối hợp hỗ trợ kết nối sản phẩm, xây dựng thương hiệu hàng hóa địa phương, phân phối, tiêu dùng hàng Việt Nam. Phối hợp với Sở Công thương trpng đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao hiệu quả triển khai Đề án "Phát triển thị trường trong nước giai đoạn 2014-2020”; tăng cường vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, thành viên Ban Chỉ đạo cuộc vận động, kịp thời tham mưu, đề xuất các cơ chế, chính sách thúc đẩy Cuộc vận động; vận động cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân nêu cao tinh thần gương mẫu trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng hàng hóa thương hiệu Việt và các sản phẩm của địa phương;
Thứ ba, tạo cơ chế phối hợp chặt chẻ nhằm động viên, khích lệ, thúc đẩy tinh thần thi đua lao động sáng tạo trong các cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân, đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, vươn lên làm giàu chính đáng, phục vụ công tác, sản suất và đời sống; định kỳ thực hiện việc bình chọn, giới thiệu, biểu dương các mô hình, điển hình, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả tại địa phương;
Thứ tư, nâng cao chất lượng các hoạt động vận động Quỹ "Vì người nghèo" gắn với phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của địa phương. Phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền tập trung ưu tiên vận động nguồn lực hỗ trợ xây nhà đại đoàn kết, phát triển sinh kế sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ khám, chữa bệnh cho người nghèo; tiếp tục chủ trì hiệp thương phối hợp với các đoàn thể chính trị - xã hội giúp đỡ các hộ gia đình thoát nghèo theo địa chỉ, số lượng cụ thể, nhân rộng các mô hình có hiệu quả trong giảm nghèo bền vững của các tổ chức thành viên;
Thứ năm, đổi mới hoạt động hiệp thương, phối hợp của Mặt trận và các tổ chức thành viên trong triển khai thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua theo hướng thiết thực, cụ thể, tránh chồng chéo, trùng lắp, gây lãng phí nguồn lực và thiếu hiệu quả. Nâng cao hiệu quả phối hợp xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”; mở rộng các mô hình đoàn kết, kết nghĩa quân dân, tăng cường và nâng cao chất lượng các mô hình tự quản về phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, bảo vệ đường biên cột mốc, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, chuyển đổi sinh kế vùng biển… Kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, biểu dương những cống hiến, đóng góp cho cộng đồng, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, để “nhân điển hình” và “nêu gương sáng” trên toàn tỉnh.
Chương trình 3: Phát huy dân chủ, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; giám sát và phản biện xã hội; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm
3.1. Nhiệm vụ trọng tâm
Thực hiện tốt vai trò đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, vận động Nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện giám sát và phản biện xã hội, đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Tuyên truyền, vận động Nhân dân tích cực tham gia xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và địa phương, đồng thời, phối hợp hoàn thiện các quy định, cơ chế, tạo môi trường để Nhân dân tích cực tham gia phản ánh, tố giác và đấu tranh với các biểu hiện và hành vi tham nhũng, lãng phí; bày tỏ ý kiến, kiến nghị, tâm tư nguyện vọng, đề xuất sáng kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Thực hiện tốt việc lắng nghe ý kiến, kiến nghị của Nhân dân để tập hợp, phản ánh đến các cơ quan Đảng, Nhà nước; nâng cao chất lượng theo dõi, giám sát, đôn đốc việc xử lý, giải quyết các ý kiến, kiến nghị của Nhân dân.
Phát huy vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền Nhân dân, Mặt trận chủ động phối hợp thực hiện tốt công tác vận động cử tri, Nhân dân thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm trong Bầu cử và phối hợp tổ chức thành công Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; hoàn thiện các quy định, đổi mới và nâng cao chất lượng tiếp xúc cử tri với đại biểu dân cử. Chủ động phối hợp với chính quyền và các tổ chức thành viên tăng cường giám sát, tham gia xây dựng, phản biện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương, nhất là hoạt động quản lý nhà nước, các hoạch định, chương trình, dự án liên quan trực tiếp đến đời sống, quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận và các tổ chức thành viên.
Thực hiện tốt vai trò của Mặt trận trong xây dựng, ban hành, tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật; nâng cao ý thức, hạn chế vi phạm pháp luật, vận động Nhân dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Tuyên truyền, vận động, tổ chức để Nhân dân thực hiện dân chủ thông qua các cơ quan, tổ chức đại diện và thực hiện dân chủ trực tiếp ở cơ sở. Tham gia đẩy mạnh cải cách hành chính, giám sát thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; nâng cao chất lượng hoạt động tiếp công dân, tham gia giải quyết và giám sát các cơ quan chính quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban thanh tra Nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng và hoạt động hòa giải ở cơ sở.
3.2. Những giải pháp cơ bản
Thứ nhất, đổi mới nội dung, phương thức tổ chức giám sát và phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền bằng việc cụ thể hóa một cách phù hợp, thiết thực, linh hoạt, sáng tạo các nhiệm vụ theo Quyết định số 217, 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị và các quy định của Luật Mặt trận; Nghị quyết liên tịch số 403 ngày 15/6/2017 giữa Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ và Ủy ban thường vụ Quốc hội “về quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Việt Nam”; Quyết định số 907-QĐ/TU, ngày 29/3/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị “về quy định trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền trong việc tiếp thu, giải quyết kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân sau giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”;
Thứ hai, chú trọng lựa chọn các nội dung, vấn đề giám sát, phản biện xã hội phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, điều kiện và năng lực của Mặt trận và các tổ chức thành viên; phối hợp tham mưu, đề xuất hoàn thiện cơ chế, huy động và tăng cường sự tham gia thường xuyên của tổ chức thành viên, các tầng lớp Nhân dân và các phương tiện truyền thông, tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát ngay từ cơ sở, phát huy vai trò của người dân và Ban công tác Mặt trận trong giám sát cán bộ, đảng viên địa bàn dân cư; tăng cường các diễn đàn Nhân dân, các buổi gặp mặt, đối thoại giữa lãnh đạo cấp ủy, chính quyền với Nhân dân để kịp thời trao đổi, tiếp thu, tháo gỡ, giải quyết những khó khăn, vướng mắc, góp phần giảm thiểu những bức xúc kéo dài trong Nhân dân;
Thứ ba, tiếp tục thực hiện Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng lãng phí giai đoạn 2018 - 2020 gắn với tuyên truyền, vận động và tổ chức thực hiện nghiêm Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018. Thực hiện tốt Quy chế "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư" và các quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư (Khóa XI, XII) liên quan đến xây dựng chỉnh đốn Đảng, kiện toàn hệ thống chính trị, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tập trung triển khai thực hiện Quy định số 124-QĐ/TW ngày 02/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”.
Thứ tư, nâng cao chất lượng Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân tại các kỳ họp Quốc hội và HĐND các cấp; tăng cường theo dõi, giám sát, đôn đốc việc xử lý, giải quyết của các cơ quan chức năng, kịp thời thông báo đến cử tri và Nhân dân biết. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực hiện dân chủ, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi để Nhân dân tham gia ngày càng rộng rãi, thực chất hơn vào hoạt động quản lý nhà nước và xã hội; tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện tốt Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở, nghiên cứu tham gia, đề xuất xây dựng Dự án Luật về hoạt động giám sát của Nhân dân. Tập trung củng cố, nâng cao chất lượng trong thực hiện công tác dân chủ ở cơ sở, chất lượng hoạt động của Ban TTND, Ban GSĐTCCĐ và các tổ hòa giải ở cơ sở.
Chương trình 4: Tăng cường đoàn kết quốc tế, mở rộng, nâng cao chất lượng hoạt động đối ngoại Nhân dân, bảo vệ biên giới quốc gia
4.1. Nhiệm vụ trọng tâm
Tăng cường phối hợp thống nhất với các tổ chức thành viên đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động đối ngoại Nhân dân theo phương châm “chủ động, sáng tạo, hiệu quả”; duy trì, củng cố và tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị với Nhân dân các địa phương và mối quan hệ với tổ chức Mặt trận, các đoàn thể Nhân dân với các tỉnh bạn Lào có chung đường biên giới. Phối hợp tổ chức tốt các hoạt động góp phần bảo vệ chủ quyền viên giới quốc gia, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển.
Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện các chủ trương đối ngoại của Đảng, chính sách ngoại giao của Nhà nước; tăng cường quan hệ hợp tác với các cơ quan đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài tỉnh, tranh thủ các nguồn lực phục vụ các vấn đề an sinh xã hội, phát triển cộng đồng tại địa phương; đẩy mạnh các hoạt động xây dựng, quảng bá hình ảnh tốt đẹp về mảnh đất và con người Quảng Trị nói riêng và Việt Nam nói chung đối với bạn bè quốc tế và khu vực.
4.2. Những giải pháp cơ bản
Thứ nhất, chủ động phối hợp thống nhất hiệp thương với các tổ chức thành viên, đổi mới, tạo sự liên kết, đồng bộ, thống nhất và hỗ trợ nhau trong tổ chức, triển khai các hoạt động đối ngoại Nhân dân; đẩy mạnh công tác tham mưu, đề xuất với cấp ủy, phối hợp với chính quyền nhằm tăng cường cơ chế, nguồn lực, điều kiện tổ chức các hoạt động đối ngoại Nhân dân;
Thứ hai, tuyên truyền, động viên, tăng cường sự hiểu biết, ủng hộ, hưởng ứng tham gia của các tổ chức thành viên, nhân sĩ, trí thức, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, các doanh nghiệp, doanh nhân, các tổ chức từ thiện, nhân đạo, các tầng lớp Nhân dân, kiều bào Quảng Trị đang sinh sống ở nước ngoài, các tổ chức quốc tế đối với các chủ trương đường lối đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước và hoạt động đối ngoại Nhân dân của Mặt trận Tổ quốc; các chủ trương, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các tiềm năng, lợi lệ của mãnh đất, con người Quảng Trị. Đồng thời cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, lợi dụng, tìm cách chia rẻ nội bộ Nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.
Thứ ba, phối hợp đổi mới nội dung, hình thức, tích cực triển khai thực hiện các biên bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác với Mặt trận và các đoàn thể Nhân dân 2 tỉnh Salavan và Savanakhet; phát triển mối quan hệ với các tổ chức tương đồng một số tỉnh của các nước láng giềng. Tổng kết, xây dựng, nhân rộng các mô hình kết nghĩa, giao lưu hữu nghị, các phong trào thi đua, đặc biệt là các mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo về xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, đoàn kết, về phong trào quần chúng Nhân dân tham gia tự quản đường biên cột mốc, giữ gìn an ninh trật tự thôn bản khu vực biên giới, các cặp “Bản - Bản” kết nghĩa…
Chương trình 5: Tăng cường củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới
5.1. Nhiệm vụ trọng tâm
Tích cực nghiên cứu, tham mưu, đề xuất hoàn thiện cơ chế về sự lãnh đạo của Đảng, phối hợp của chính quyền, các chủ trương, chính sách, quy chế, quy định của cấp ủy, chính quyền đối với hoạt động, công tác Mặt trận; đổi mới nội dung phối hợp công tác với các cấp chính quyền, các tổ chức thành viên và không là thành viên, đảm bảo hiệu quả, chất lượng hoạt động của Mặt trận.
Xây dựng UBMT các cấp với thành phần, cơ cấu hợp lý, coi trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và tính thiết thực; mở rộng thành phần là những cá nhân tiêu biểu, đại diện cho các giai cấp, tầng lớp, các dân tộc, tôn giáo có đủ điều kiện, tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay để Mặt trận thực sự là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện, đại diện tiêu biểu cho ý chí và nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân.
Củng cố kiện toàn, nâng cao chất lượng xây dựng tổ chức bộ máy, đổi mới phương thức hoạt động theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, cụ thể, thiết thực với đội ngũ cán bộ Mặt trận chuyên nghiệp, tâm huyết, linh hoạt, sáng tạo, đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu phù hợp. Xây dựng và thực hiện tiêu chuẩn, chức danh theo vị trí việc làm, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, tạo nguồn, luân chuyển cán bộ; phát huy mạnh mẽ vai trò của đội ngũ chuyên gia, cộng tác viên, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng tư vấn, Ban tư vấn.
5.2. Những giải pháp cơ bản
Thứ nhất, quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 17/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chỉ thị số 18-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về việc lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong tỉnh, nhiệm kỳ 2019 - 2024”. Cụ thể hóa các kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; nghị quyết số 26-NQ/TW về “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” của Ban chấp hành Trung ương khóa XII, thông qua việc tổ chức thực hiện có chất lượng Đề án "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp, nhất là cấp cơ sở” gắn với tổ chức lại các Ban, Văn phòng cơ quan chuyên trách Mặt trận các cấp trong tỉnh;
Thứ hai, tập trung đổi mới toàn diện, căn bản phương thức hoạt động của Mặt trận, từ việc xây dựng và ban hành kế hoạch, chương trình, đề án đến tổ chức triển khai thực hiện và tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm. Trước mắt, cần đổi mới nâng cao chất lượng tổ chức các kỳ họp, hội nghị, giao ban, trực báo của Mặt trận tương quan, phù hợp với các Hội nghị của cấp ủy, kỳ họp của HĐND các cấp nhằm thực hiện có chất lượng việc tham gia góp ý, phản biện, trao đổi đối với những vấn đề mang tính thời sự, quan trọng, nhạy cảm, đang phát sinh, gây bức xúc tại địa phương; phát huy tích cực trí tuệ, tính chủ động, sáng tạo và vai trò của ủy viên UBMT, tổ chức thành viên trong phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân, tham gia xây dựng các chủ trương, chính sách của địa phương và cơ sở.
Thứ ba, chủ động, linh hoạt trong tham mưu, đề xuất hoàn thiện các cơ chế, quy định, chủ trương và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động, công tác Mặt trận; đổi mới nội dung, hình thức quan hệ công tác giữa Mặt trận với các cơ quan của Đảng, chính quyền, các ngành chức năng, các tổ chức thành viên; cụ thể nội dung phối hợp, hiệp thương, phân công công tác đối với hệ thống Mặt trận và tổ chức thành viên, thực hiện nghiêm túc việc tổng kết, đánh giá thực tiễn quá trình tổ chức triển khai, kịp thời bổ sung, chỉnh sửa đảm bảo phù hợp, hiệu quả và thiết thực.
Thứ tư, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của UBMT các cấp, lựa chọn nội dung triển khai có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên những nhiệm vụ mang tính cốt lõi, nét mới theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị và xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội và công tác Mặt trận địa phương. Đổi mới công tác hướng dẫn hoạt động của Mặt trận, phát huy trí tuệ, tính chủ động, sáng tạo của mỗi thành viên; mở rộng và xây dựng cơ chế phối hợp với các tổ chức không phải là thành viên của Mặt trận. Nghiên cứu xây dựng, triển khai, thí điểm các đề án về nâng cao vai trò tổ chức thành viên, đổi mới hoạt động của Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư…;
Thứ năm, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp, nhất là cấp cơ sở, ngang tầm, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi trong giai đoạn mới, phù hợp với công tác vận động quần chúng và nhiệm vụ công tác Mặt trận. Thường xuyên quan tâm, động viên, khích lệ đội ngũ cán bộ Mặt trân cơ sở, đổi mới hình thức, cơ chế thi đua khen thưởng, kịp thời biểu dương, tôn vinh, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến, tập thể, cá nhân tiêu biểu có đóng góp tích cực và hiệu quả cho công tác Mặt trận, đồng thời thực hiện nghiêm minh kỷ luật, kỷ cương trong hệ thống Mặt trận các cấp. Định kỳ tổ chức các hoạt động gặp mặt biểu dương, tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm, hội thi, hội diễn đối với cán bộ Mặt trận cơ sở và khu dân cư…
Với tinh thần “Đoàn kết, dân chủ, đồng thuận, phát triển”, Đại hội phát động, kêu gọi Mặt trận từ tỉnh đến cơ sở, tổ chức thành viên cùng toàn thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân, đoàn kết, nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm thực hiện thắng lợi Chương trình hành động Đại hội XII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị, nhiệm kỳ 2019 - 2024; tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Quảng Trị phát triển nhanh và bền vững.
 
 
[1] Trong nhiệm kỳ: Liên doàn Lao động tỉnh thành lập mới 163 Công đoàn cơ sở, phát triển 9.157 đoàn viên; giới thiệu 6.802, trong đó có 3.497 ĐVƯT đã được kết nạp Đảng. Hội Nông dân tỉnh kết nạp mới 13.459 hội viên, giới thiệu và được kết nạp 1.067 hội viên vào Đảng. Hội Cựu Chiến binh thành lập mới 42 cơ sở Hội (tăng 10,36%); kết nạp mới 3.461 hội viên (tăng 11,94%); tập hợp, thu hút 18.823 Cựu Quân nhân vào 558 CLB, BLL sinh hoạt (đạt 70,48%). Hội LHPN tỉnh đã phát triển thêm 10.594 hội viên; giới thiệu và được xem xét kết nạp 1.628 hội viên vào Đảng; xây dựng 289 mô hình với 6.435 thanh viên. Tỉnh đoàn Quảng trị tổ chức thành lập mới 25 cơ sở Đoàn trong doanh nghiệp ngoài Nhà nước với 605 đoàn viên; kết nạp được 50.528 đoàn viên mới; giới thiệu 9.561, trong đó có 6.739 ĐVƯT được kết nạp Đảng. Hội LHTN Việt Nam tỉnh phát triển tăng thêm 13.818 hội viên (đạt tỷ 68%) tham gia sinh hoạt trong 780 câu lạc bộ, tổ, đội nhóm. Hội Từ thiện tỉnh đã thành lập thêm 03 tổ chức hội thành viên; 20 CLB NKT thu hút trên 500 hội viên tham gia. Hội Cựu TNXP kết nạp thêm 2.770 hội viên; phát triển tổ chức Hội cơ sở từ 50 lên 65 tổ chức. Hội Cựu giáo chức tỉnh xây dựng và phát triển tổ chức Hội từ phường, xã, thị trấn và 08 huyện, thị xã, thành phố (Cồn Cỏ và Đakrông không đủ điều kiện). Hội NKT, NNDC, Bảo trợ NKT và Bảo vệ QTE tỉnh đã hợp nhất 03 hội (Hội NKT, Hội NNDC, Hội Bảo trợ NKT-TMC); 7/9 Hội cấp huyện đã tổ chức Đại hội. Đoàn Luật sư tỉnh hiện nay có 07 tổ chức hành nghề Luật sư, trong đó có 01 công ty Luật TNHH MTV, 06 Văn phòng Luật sư, 01 Chi nhánh công ty Luật; số Luật sư tham gia hiện có là 15 người. Hội Đông y được tổ chức lại trên cơ sở sát nhập Hội Châm cứu và Hội Đông y với 850 hội viên, 03 chi hội trực thuộc; 09 Hội Đông y cấp huyện và 42 Hội Đông y cấp xã. Hội Khuyến học thu hút 176.072 hội viên tham gia (28,23% dân số), đứng thứ tư cả nước về tỷ lệ phát triển hội viện. Hội Nhà báo kết nạp mới 06 hội viên, nâng tổng số hội viên hiện có lên 136 người, trong đó 78% là đảng viên. Câu Lạc bộ Đường 9 kết nạp mới 30 hội viên (tăng 05 hội viên so với nhiệm kỳ trước). Liện hiệp các Hội KH&KT hiện có 38 thành viên và 04 đơn vị trực thuộc, tổng số hội viên là 10.300 người (tăng 1.800 người, tăng 1.200 trí thức). Hội TCTYN tỉnh hiện có 1.738 hội viên, giảm 537 hội viên so với nhiệm kỳ trước (qua đời). Hội Văn học Nghệ thuật tổ chức kết nạp hội viên mới từ 05-14 người/năm, nâng tổng số hội viên hiện nay lên 228 người, tăng 36 hội viên so với đầu nhiệm kỳ. Hội Chữ thập đỏ thành lập mới 01 tổ chức Hội cấp huyện (Cồn Cỏ), 01 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, 01 tổ chức Hội trực thuộc, 15 Hội cơ sở các trường học, cơ sở y tế và 07 chi hội. Hội Người mù đã chuyển đổi 11 Chi hội sang tổ chức Hội, thành lập mới 04 Chi hội, nâng tổng số Hội và Chi hội hiên nay lên 131 (45 Chi hội và 86 Hội), đạt tỷ lệ 93%. Hội Luật gia đã thành lập mới 4/15 Chi hội Luật gia trực thuộc tỉnh, phát triển 149 hội viên mới, cấp thẻ cho 275/371 hội viên.
[2] - Hội Cựu giáo chức phối hợp tổ chức các Hội thảo khoa học như: “Đạo lý – nghĩa tình – tôn vinh nghề dạy học”, “Sáng tâm – sáng trí – sáng đạo thầy”, “Chung sức - chung lòng - chung sự nghiệp”. Hội Văn học Nghệ thuật tổ chức 36 trại sáng tác với trên 2000 tác phẩm, 1000 đầu sách; tổ chức các Hội thi sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Đồng chí Lê Duẩn với Cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Trị”. Hội Nhà báo tổ chức thành công Hội báo xuân hàng năm với hơn 850 ấn phẩm; nâng cấp và tổ chức tốt Giải Báo chí của tỉnh, xuất bản 04 số đặc san “Nhà báo quê hương”. Câu Lạc bộ Đường 9 xuất bản “Kỷ yếu 25 năm hoạt động” với 300 cuốn; “Đường 9 xanh tập 13 – 14” với 600 cuốn; “Thơ Đường 9” với 300 cuốn...
[3] - Ban Thường trực UBMT tỉnh đã tổ chức Hội nghị biểu dương 30 Người uy tín, tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số có thành tích xuất sắc trong phong trào toàn dân giữ gìn đường biên cột mốc; xây dựng và triển khai 02 Đề án về tăng cường công tác Mặt trận xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2019-2021.
[4]- Tổng kết, đánh giá 20 năm thực hiện Cuộc vận động, UBMT tỉnh đã biểu dương 40 Chủ tịch UBMT cấp xã, 35 tập thể và 10 cá nhân đã có thành tích xuất sắc.
[5] - Tỉnh đoàn tổ chức các hoạt động, công trình, phần việc “Xung kích, tình nguyện phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Đồng hành cùng thanh niên lập thân, lập nghiệp” thu hút hàng chục nghìn lượt thanh niên tham gia với tổng giá trị hàng trăm tỷ đồng. Hội LHPN với Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh đã vận động tình nguyện hiến 20.251m2 đất, đóng góp 3,743 tỷ đồng và gần 2.435 ngày công. Các doanh nghiệp, HTX, trang trại, gia trại  của Hội CCB đã giải quyết việc làm cho 8.902 lao động.
[6] - Các mô hình “Tổ nhóm thu gom rác thải” khu dân cư Đạo Đầu (Triệu Phong), khu dân cư Đại An Khê (Hải Lăng);“khu dân cư bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu” Gio Linh và Hướng Hóa; đơn vị kiểu mẫu cấp xã “về môi trường trong xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh”  cùa Cam Lộ và thị xã Quảng Trị; khu dân cư “thực hiện hài hòa giảm nghèo và bảo vệ môi trường” thành phố Đông Hà, huyện Triệu Phong; 78 tuyến đường tự quản ở thành phố Đông Hà; “xã, thị trấn đảm bảo trật tự an toàn giao thông” huyện Gio Linh, Hải Lăng; “khu dân cư không có tội phạm và tệ nạn xã hội, không có người nghiện ma túy” huyện Hải Lăng; “Niệm phật đường ổn định” huyện Triệu Phong; “Dòng họ không có người vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội” thành phố Đông Hà; “Giáo dục trẻ em không làm trái pháp luật” thị xã Quảng Trị; “Phật giáo tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” huyện Cam Lộ... Mô hình nuôi bò sinh sản ở Vĩnh Linh, Triệu Phong; mô hình trồng nghệ, dưa hấu thâm canh ở huyện Gio Linh và Vĩnh Linh; mô hình trồng cây dược liệu, dứa, ớt ở Cam Lộ; mô hình nuôi cá lồng ở huyện Triệu Phong và Gio Linh, mô hình kinh doanh dịch vụ và mô hình làm bánh cuốn ở thành phố Đông Hà…
[7] - Mức đạt tiêu chí bình quân là 14,15 tiêu chí/xã, tăng 6,05 tiêu chí/xã so với cuối năm 2013, không còn xã dưới 5 tiêu chí; 1039/1082 làng, bản, khu phố được công nhận văn hóa, đạt tỷ lệ 96,03%, tăng 15,4%; 148.908/164.458 gia đình được công nhận gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 90.5%, tăng 4,3 %; 974/1045 cơ quan, đơn vị được công nhận đơn vị văn hóa, đạt tỷ lệ 93,2%.
[8] - Cấp tỉnh: Hỗ trợ xây dựng 616 nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo, trị giá 23.214 triệu đồng; hỗ trợ sữa chữa nhà ở cho 13 hộ gia đình, trị giá 106 triệu đồng; hỗ trợ phát triển sản xuất cho  51 hộ gia đình, trị giá 773 triệu đồng; hỗ trợ cho 1.426 lượt em học sinh nghèo, trị giá 522,87 triệu đồng; hỗ trợ khám chữa bệnh cho 273 người, trị giá 672,5 triệu đồng; hỗ trợ khó khăn đột xuất cho 13.863 lượt đối tượng, trị giá 6.815,84 triệu đồng; hỗ trợ khác trị giá 782 triệu đồng. Cấp huyện: Hỗ trợ xây dựng 585 nhà Đại đoàn kết, trị giá 17.806 triệu đồng; hỗ trợ sữa chữa nhà ở cho 163 hộ gia đình, trị giá 1.426 triệu đồng; hỗ trợ phát triển sản xuất cho 158 hộ gia đình, trị giá 1.215 triệu đồng; hỗ trợ 600 lượt em học sinh nghèo, trị giá 342 triệu đồng; hỗ trợ khó khăn đột xuất cho 19.363 lượt đối tượng, trị giá 7.542,16 triệu đồng; hỗ trợ khám chữa bệnh cho 544 đối tượng, trị giá 1.000,8 triệu đồng; hỗ trợ khác trị giá 427,8 triệu đồng. Cấp xã: Hỗ trợ xây dựng 203 nhà Đại đoàn kết, trị giá 5.144,5 triệu đồng; hỗ trợ sữa chữa nhà ở cho 296 hộ gia đình, trị giá 2.486,1 triệu đồng; hỗ trợ phát triển sản xuất cho 395 hộ gia đình, trị giá 1.085,3 triệu đồng; hỗ trợ 1.276 em học sinh nghèo, trị giá 384,59 triệu đồng; hỗ trợ khó khăn đột xuất cho 24.252 lượt đối tượng, trị giá 8.229,9 triệu đồng; hỗ trợ khám chữa bệnh cho 1.715 đối tượng, trị giá 695,7 triệu đồng; hỗ trợ khác trị giá 595,2 triệu đồng.
- Hội Cựu chiến binh xây dựng 101 nhà Nghĩa tình đồng đội trị giá 5,96 tỷ đồng, tặng quà và sổ tiết kiệm cho các đối tượng chính sách với tổng số tiền 2,69 tỷ đồng. Hội NKT, NNDC, Bảo trợ NKT và Bảo vệ QTE vận động trợ giúp, bảo trợ cho NKT, NNDC, TMC với tổng số tiền 82.223.240.000 đồng (tiền và hiện vật). Hội Chủ thập đỏ phối hợp vận động tổ chức các hoạt động nhân đạo, từ thiện, phòng ngừa giảm nhẹ thiên tai, chăm sóc sức khỏe Nhân dân với tổng giá trị 101.680 tỷ đồng với 500.292 lượt người được trợ giúp. Hội Cựu TNXP vận động, tiếp nhận, trao tặng 129 căn nhà, 143 sổ tiết kiệm, 2000 suất quà và 619 con bê giống sinh sản cho hội viên cựu TNXP khó khăn với tổng giá trị 16.336 triệu đồng. Hội Khuyến học xây dựng 77 “Mái ấm khuyến học” (25 - 60 triệu đồng/01 mái ấm), Quỹ Khuyến học các cấp huy động được hợn 174 tỷ đồng (cấp tỉnh hơn 27tỷ đồng). Hội Người mù triển khai 53 dự án cho vay với tổng số vốn luân chuyển hơn 03 tỷ đồng (303 lượt hội viện vay); thu hút đầu tư 66 dự án lớn nhỏ phục vụ người mù tổng trị giá hơn 4,5 tỷ đồng. Hội Từ thiện phối hợp, hợp tác với đối tác trong và ngoài nước tạo nguồn kinh phí trợ giúp người nghèo, người khuyết tật, trẻ mồ côi, người gặp hoạn nạn với tổng số tiền 31,832 tỷ đồng. Hội Tù CTYN vận động, tiếp nhận, trao tặng 600 suất quà trị giá 200 triệu đồng; vận động ủng hộ “Quỹ Nghĩa tình” số tiền 163 triệu đồng. Hội Nhà báo phối hợp tổ chức vận động thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ xây dựng 91 căn nhà ở cho các gia đình, đối tượng khó khăn với tổng giá trị 4,3 tỷ đồng...
[9] - Phân bổ, hỗ trợ xây dựng 63 công trình dân sinh trị giá 24.844.428.600 đồng; sửa chữa xây dựng nhà ở: 7.410..000.000 đồng; các hỗ trợ khác: 2.578.500.000 đồng…
[10] - Gạo sạch Triệu Phong, cà gai leo An Xuân, tinh dầu thiên nhiên Huyền Thoại, chè vằng hòa tan, dầu lạc Cam Lộ, tinh bột nghệ, hồ tiêu, cà phê Khe Sanh…
[11] - Phong trào “Tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới”, “Con đường thanh niên xây dựng nông thôn mới”, “Thanh niên xung kích xây dựng văn minh đô thị”, “Tuổi trẻ xung kích cải cách hành chính” của Tỉnh đoàn; “Phụ nữ Quảng Trị tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh với các mô hình “tiết kiệm - tín dụng”, “làm kinh tế giỏi”, “giảm nghèo bền vững”, “ngân hàng con giống”, “đường hoa yêu thương” của Hội LHPN tỉnh; Phong trào “Tiếp tục đi tìm đồng đội”, các mô hình doanh nghiệp, HTX, trang trại, gia trại  của hội viên Hội Cựu chiến binh; Phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”, “Nông dân chung sức xây dựng nông thôn mới, đo thị văn minh”, “Nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh” của Hội Nông dân; Phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Cải cách hành chính trong khu vực hành chính sự nghiệp”, “Chung tay xây dựng nông thôn mới”, “Nâng cao y đức, y thuật”, “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh” của Liên đoàn Lao động tỉnh. Các hoạt động trợ giúp cho NKT và TMC, bảo trợ NKT, NNDC và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bệnh của Hội NKT, NNDC, Bảo trợ NKT và Bảo vệ QTE; Phong trào “Cựu TNXP giúp nhau làm kinh tế giỏi - thoát nghèo bền vững” của Hội Cựu TNXP; “Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc da cam”, “Mỗi tổ chức, mỗi cá nhân gắn với một địa chỉ nhân đạo”, “Bữa ăn tình thương cho bệnh nhân nghèo”, “Hũ gạo tình thương” của Hội Chữ Thập đỏ; mô hình “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập”, “Đơn vị học tập”; “Mái ấm khuyến học” của Hội Khuyến học; Dự án “Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng”, “Phục hồi chức năng và cải thiện chất lượng cuộc sống”, “Chống suy dinh dưỡng cho trẻ các trường mầm non”, “Giáo dục hòa nhập tại Quảng Trị” của Hội Từ thiện…
[12] - Hội Luật gia trực tiếp tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý 54 đợt với 1398 vụ và giải quyết 61 vụ việc miễn phí; tư vấn và hỗ trợ pháp lý đăng ký kết hôn, khai sinh nhận Quốc tịch cho 60 hộ với 276 người đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do từ Lào về Việt Nam tại xã A Dơi huyện Hướng Hóa. Liên Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh tích cực tham gia các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội với 11 dự án cấp tỉnh; Phối hợp tổ chức nhiều Hội thảo khoa học quan trọng mang tính đột phá trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương.
[13] -  Trong nhiệm kỳ, Mặt trận đã phối hợp tổ chức 315 cụm điểm tiếp xúc đại biểu Quốc hội, tổng hợp 958 ý kiến kiến nghị; 353 cụm điểm tiếp xúc đại biểu HĐND tỉnh với hơn 3.190 lượt cử tri tham gia ý kiến;  479 điểm tiếp xúc đại biểu HĐND huyện với trên 3.413 lượt cử tri tham gia ý kiến; 5.146 điểm tiếp xúc đại biểu HĐND xã với trên 20.320 lượt cử tri tham gia ý kiến. Tham gia trực tiếp hơn 3000 ý kiến, kiến nghị đến kỳ họp HĐND các cấp: Cấp tỉnh: 87 ; cấp huyện: 300; cấp xã 1.876.
[14] - UBMT tỉnh tổ chức 12 cuộc giám sát chuyên đề, kiến nghị 171 vấn đề; phối hợp với các đoàn thể CT-XH thực hiện 37 cuộc giám sát. UBMT cấp huyện chủ trì, phối hợp tổ chức 50 cuộc giám sát tại các địa bàn cấp xã; phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp giám sát 197 cuộc giám sát. UBMT cấp xã triển khai 403 cuộc giám sát; phối hợp giám sát với các tổ chức chính trị- xã hội 330 cuộc giám sát.
[15] - UBMT tỉnh phối hợp tổ chức 05 phiên Hội đàm trao đổi kinh nghiệm công tác Mặt trận: 03 phiên tại Quảng Trị với các tỉnh Salavan, Savanakhet và Champasak; 01 phiên tại Salavan và 01 phiên tại Savanakhet. Đoàn Thanh niên phối hợp tổ chức 5 chiến dịch thanh niên tình nguyên tại tỉnh Savanakhet (Lào)…
[16] Trong nhiệm kỳ, UBMT tỉnh được tặng thưởng Huân chương Độc lập Hạng 3; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về công tác Bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp; Cờ đơn vị thi đua xuất sắc, Cờ thi đua xuất sắc toàn diện của UBTWMTTQ Việt Nam; Cờ dẫn đầu khối thi đua của UBND tỉnh; 04 cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; 770 cá nhân được tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân”; hàng trăm tập thể cá nhân được tặng Bằng khen của UBTWMTTQ Việt Nam, UBND, UBMT tỉnh…

  Ý kiến bạn đọc

Liên kết web
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây