Di sản Hồ Chí Minh những ngày đầu dựng nước

Chủ nhật - 31/05/2020 10:29 94 0

(QTO) - Đã có hàng trăm, hàng ngàn cuốn sách viết về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng vào thời điểm hiện nay, nghiên cứu di sản của Người để lại từ những ngày đầu dựng nước là thiết thực, bổ ích nhất vì vấn đề Hồ Chí Minh đặt ra hồi đó vẫn có ý nghĩa thời sự. Hơn nữa, năm 2020, cũng là dịp kỷ niệm 75 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2/9 (1945-2020).

 

Nhà Bác Hồ ở Làng Sen. Ảnh: TL

 

Một công trình, một con người hay một chặng đường…, sự khởi đầu bao giờ cũng ôm chứa những ý tưởng, dự định và hy vọng tốt lành mà trong quá trình thực hiện, trong những bước đi kế tiếp, vì sự “xô đẩy” của những thế lực này khác, vì sự “ô nhiễm” tất yếu của môi trường mà không một thực thể nào tránh được, những điều đó có thể biến dạng, có khi rơi rụng đi ít nhiều.

 

Với đất nước Việt Nam, sự khởi đầu có ý nghĩa lịch sử là Cách mạng Tháng 8 năm 1945 với bản Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình đã được sử sách nói đến nhiều và được đưa vào sách giáo khoa, nên hầu như ai cũng biết. Tuy vậy, cũng vào năm 1945, để xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng non trẻ trong tình thế éo le như “ngàn cân treo sợi tóc”, Hồ Chí Minh còn có nhiều bài viết quan trọng khác nữa.

 

Bảy mươi lăm năm đã qua, đất nước chúng ta cũng như cả thế giới đã có biết bao thay đổi, đầy những biến động bất ngờ, đến mức nhiều người thốt lên: “Mọi điều đều có thể xảy ra”! Mặc dù thế và cũng có thể nói, chính vì thế mà chúng ta cần nhắc lại những ý tưởng đẹp đẽ, những điều tâm huyết mà vị lãnh tụ anh minh của dân tộc đã gửi gắm vào thời kỳ đầu của cách mạng, như là một chiến binh qua bao trận mạc, trở về tắm gội nơi suối nguồn trong trẻo để trút bỏ bụi bặm đường trường, tiếp thêm sinh lực, xốc lại hành trang để vững bước lên chặng đường mới.

 

Trong tuyển tập các bài nói và viết cơ bản nhất của Hồ Chí Minh được xuất bản ngay sau khi Người qua đời (“Vì Độc lập tự do, vì Chủ nghĩa xã hội” - NXB Sự thật, 1970), ngoài Tuyên ngôn Độc lập, còn có 4 bài nữa công bố năm 1945, trong đó bài “Hô hào Nhân dân chống nạn đói” không ghi rõ ngày tháng, nhưng căn cứ vào sự kiện nạn đói Ất Dậu để lại hậu quả nặng nề cho chính quyền cách mạng non trẻ, có thể bài viết này được Hồ Chí Minh thực hiện sớm nhất (có khi Người viết trước cả Tuyên ngôn Độc lập). Hẳn sẽ có người nói: Bây giờ, Việt Nam xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới, lời “Hô hào Nhân dân chống nạn đói” liệu còn ý nghĩa gì nữa? Xin thưa: Nạn đói càn quét mấy chục tỉnh miền Bắc năm 1945 đã là chuyện quá khứ, nhưng những năm gần đây, Nhà nước vẫn phải luôn xuất gạo dự trữ cứu đói một số vùng dân cư vì hạn hán hay bão lũ khiến hàng ngàn gia đình trắng tay; trong tình hình đó, tinh thần tương thân tương ái “vùng này san sẻ thức ăn cho vùng khác, đỡ đầu cho vùng khác… Chắc không ai thấy đồng bào chết đói mà nỡ lòng no ấm một mình” mà Hồ Chí Minh nêu ra từ năm 1945 vẫn luôn phải được đề cao. Trong khi báo chí đã nêu gương rất nhiều người, tuy không giàu có gì, đã nhiệt tình góp tiền, góp vật dụng thiết yếu, nhiều cây “ATM gạo” mở ra giúp bà con thiếu đói vì mất việc làm do COVID-19, thì cũng không ít bữa tiệc thừa thãi sơn hào hải vị mở ra ở các nhà hàng sang trọng; thậm chí có cán bộ kéo nhau ngồi nhậu giữa cơ sở “cách ly”! Lại còn chuyện cán bộ nơi này nơi kia ăn bớt, ưu ái người thân khi phân chia tiền, hàng trong các kỳ cứu trợ bão lụt trước đây, khiến dân chúng bất bình. Vì vậy mà trong dịp phần chia kinh phí hỗ trợ các đối tượng bị thiệt hại do COVID-19, Chính phủ đã chỉ thị phải đặc biệt chú ý “công khai, minh bạch”. Từ bảy mươi lăm năm trước, Hồ Chí Minh đã viết: “Các Ủy ban phải có sáng kiến để tìm ra cách làm được việc mà không mất lòng dân. Nhất là đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY SINH, chữ CÔNG BẰNG (*) thì các Ủy ban phải thực hành trước, phải làm gương cho Nhân dân”.

 

Những dòng chữ quả đã xuất hiện từ “ngày xưa” nhưng nay nhắc lại vẫn nóng bỏng tính thời sự trước tình hình nhiều “Ủy ban” hiện nay suy thoái đến mức Ủy ban kiểm tra Trung ương phải liên tục họp xét kỷ luật. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) cũng đã chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy Nhà nước”; mục 5 trong 9 loại suy thoái còn chỉ rõ: “Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của Nhân dân”.

 

Tuổi trẻ Triệu Phong dâng hương tại Đền thờ Bác Hồ tại thôn Hà Xá, xã Triệu Ái. Ảnh: Trần Tuyền

 

Yêu cầu cán bộ “làm được việc mà không mất lòng dân”, “làm gương cho Nhân dân” còn được Hồ Chí Minh nhấn mạnh hơn nữa trong thư “Gửi các ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện và làng” viết tháng 10/1945. Có lẽ đây là lần đầu tiên, vị lãnh đạo tối cao của dân tộc, dù chính quyền non trẻ vừa thành lập, đã mạnh mẽ và quyết liệt chỉ rõ những vấn đề rất cơ bản về trách nhiệm của người cầm quyền: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì…, các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc cho đến các làng đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân…”. Tiếp đó, Người nhấn mạnh: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh”.

 

Đọc lại những dòng chữ này, nghĩ tới những vụ cán bộ các cấp ức hiếp dân hay tham nhũng bị kỷ luật, thậm chí ra tòa liên tục xảy ra, chúng ta không khỏi giật mình vì sự suy thoái, biến dạng của một số kẻ “đầy tớ của dân” thời nay và càng khâm phục sự tiên báo của Hồ Chí Minh về nguy cơ “quyền lực làm tha hóa con người” đang “đe dọa tồn vong của chế độ”, như các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước hiện nay đã nhiều lần cảnh báo.

 

Cũng trong lá thư trên, Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra những “lầm lỗi rất nặng nề” mà nhiều cán bộ phạm phải. Đó là:

 

“1. Trái phép. Những tên Việt gian phản quốc chứng cớ rõ ràng thì phải trị đã đành, không ai tránh được. Nhưng cũng có lúc vì tư thù, tư oán mà bắt bớ và tịch thu gia sản làm dân oán thán.

 

2. Cậy thế. Cậy mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao làm vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân.

 

3. Hủ hoá. Muốn ăn cho ngon, mặc cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ở đâu mà ra? Thậm chí lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Ông uỷ viên đi xe hơi, rồi bà uỷ viên, cho đến các cô các cậu uỷ viên cũng dùng xe hơi của công.

 

4. Tư túng. Kéo bè kéo cánh, bà con, bạn hữu mình không tài năng gì cũng chức này, chức nọ. Người có tài, có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công chứ không phải việc riêng gì của ai.

 

5. Chia rẽ. Bênh vực lớp này chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng với nhau, hòa thuận với nhau, thậm chí có đôi nơi ruộng đất bỏ hoang, nông dân ta thán. Quên rằng lúc này ta phải toàn dân đoàn kết. Không chia già, trẻ, giàu, nghèo để giữ nền độc lập, chống kẻ thù chung.

 

6. Kiêu ngạo. Tưởng mình ở trong cơ quan của Chính phủ là thần thánh rồi, coi khinh Nhân dân, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mệnh” lên. Không biết thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của Chính phủ”.

 

Thực ra, nguy cơ tha hóa của người nắm quyền lực là bi kịch của nhân loại, cũng có thể nói đó là vấn đề muôn thuở, chứ không là “thuộc tính” của thời đại nào.

 

Vấn đề là phải tìm cách ngăn chặn, khắc phục nó. Và như Hồ Chí Minh đã viết: “…Đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa… nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”. Vấn đề thật là sáng rõ. Điều đáng suy nghĩ là vì sao hơn bảy thập kỷ qua, biết bao nhiêu chỉ thị, nghị quyết và những cuộc chỉnh huấn đã được thực hiện mà “Tình trạng suy thoái… có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn”? (Nghị quyết Trung ương 4, Khóa XII).

 

Chúng ta hy vọng việc nhắc lại những ý tưởng đẹp đẽ, trong sáng đã xuất hiện tự buổi khởi đầu cách mạng sẽ góp phần thúc đẩy quyết tâm “đổi mới toàn diện” mà Đảng đang quyết tâm thực hiện trong quá trình tiến tới Đại hội Đảng lần thứ XIII, từ việc hoàn chỉnh báo cáo chính trị cho đến công tác nhân sự các cấp… Trong tiến trình này, chúng ta cũng hy vọng những người đang “cầm cân nẩy mực” lãnh đạo đất nước và các địa phương “phải có sáng kiến để tìm ra cách làm được việc mà không mất lòng dân” như Hồ Chí Minh đã viết từ năm đầu dựng nước, để dân tộc ta đủ sức vượt qua những trở ngại và cạm bẫy trong thế giới vẫn đầy những biến động phức tạp, khó lường như hiện nay.

 

Nguyễn Khắc Phê

 

(*) 4 từ in chữ lớn trong nguyên bản của NXB sự thật.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

phai
trai
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây