Screenshot 2024 05 19 at 10 34 01

Khi tiềm năng vùng cát được đánh thức

Thứ năm - 26/04/2018 07:35 558 0
(QT) - Sau khi sự cố môi trường biển xảy ra, ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Trị nhận thấy, việc phát triển sinh kế là điều kiện cần thiết để tái cơ cấu nông nghiệp trên vùng cát, giúp phát triển kinh tế- xã hội tại các địa phương ven biển. Trên cơ sở đó, ngành đã xây dựng các đề án cụ thể tập trung cải tạo, khai thác tiềm năng, lợi thế vùng cát để phát triển nhiều mô hình mới, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế khá cao. Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện, những vùng cát ven biển đã thực sự chuyển mình. Nhiều loại giống cây trồng, con nuôi mới đã được người dân triển khai sản xuất, bước đầu đem lại nguồn thu nhập khá.
Một mô hình trồng nấm ở xã Gio Việt, Gio Linh
Một mô hình trồng nấm ở xã Gio Việt, Gio Linh

Gia đình ông Hoàng Đới, ở thôn Xuân Lộc, xã Gio Việt, huyện Gio Linh nhiều đời gắn bó với biển, từ đánh bắt đến chế biến thủy, hải sản. Vào thời điểm trước khi sự cố môi trường biển xảy ra, ông Đới là chủ một cơ sở chế biến sứa có tiếng trong vùng, sản phẩm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, tạo việc làm cho hàng chục lao động địa phương. Khi sự cố môi trường biển xảy ra, mọi hoạt động ở cơ sở chế biến sứa của ông Đới bị ngưng trệ. Ông Đới nhớ lại: “Ở giai đoạn ấy gia đình tôi gặp nhiều khó khăn. Vợ chồng tôi loay hoay mãi không biết làm nghề gì để nuôi sống gia đình khi cơ sở sản xuất sứa không còn hoạt động. May mắn là chúng tôi đã được các ngành chức năng quan tâm cử kỹ sư nông nghiệp về tận cơ sở hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ thêm vốn để phát triển mô hình kinh tế trên vùng cát ven biển. Gia đình tôi triển khai mô hình trồng nấm sò từ đó”. Trên cơ sở nhà xưởng sẵn có từ trước, ông Đới đã cải tạo, mua sắm thêm trang thiết bị để triển khai mô hình trồng nấm. Ông Đới cũng thừa nhận rằng, đã quen với nghề biển nên khi bắt tay vào sản xuất nông nghiệp ban đầu cũng gặp nhiều bỡ ngỡ. Tuy nhiên bằng sự kiên trì, ham học hỏi, đến nay gia đình ông Đới đã thành công với mô hình trồng nấm sò ở vùng cát. Với quy mô khoảng 2.000 bịch nấm, bình quân mỗi ngày ông Đới thu vào từ 10-15 kg nấm sò, sau khi trừ chi phí, mỗi tháng cho lãi ròng gần 8 triệu đồng, cuộc sống gia đình ông từng bước ổn định. Trồng nấm sò được xác định là một trong những mô hình kinh tế hiệu quả, có thể triển khai và nhân rộng ở các xã vùng biển, đầu ra cho sản phẩm cũng khá thuận lợi vì đây là sản phẩm sạch nên được thị trường ưa chuộng với giá bình quân từ 30 - 50 ngàn đồng/kg. “Sau khi thực hiện chuyển đổi sinh kế, tôi nhận thấy rằng lâu nay ngư dân chỉ tập trung để khai thác, chế biến nguồn lợi thủy sản, chưa chú trọng đúng mức đến việc khai thác tiềm năng vùng cát. Thực tế, nếu được sự hỗ trợ về khoa học kỹ thuật, nguồn vốn vay, những người dân ven biển hoàn toàn có thể phát triển thêm nhiều mô hình nông nghiệp hữu ích để nâng cao thu nhập cho gia đình, ổn định cuộc sống”, ông Đới cho biết thêm.

 

Trao đổi với chúng tôi về việc triển khai chuyển đổi sinh kế cho người dân tại địa phương, ông Nguyễn Thanh Thương, Chủ tịch UBND xã Gio Việt, Gio Linh cho hay, sau sự cố môi trường biển, chính quyền địa phương chủ động hỗ trợ kỹ thuật, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của cấp trên để xây dựng nhiều mô hình chuyển đổi sinh kế phù hợp, chẳng hạn như mô hình trồng nấm, nuôi gà, tôm, chim yến... Đến nay, đa số các mô hình đang được người dân duy trì và phát triển khá tốt, đặc biệt có nhiều mô hình có thể nhân rộng như trồng nấm, nuôi gà..., mọi hoạt động đánh bắt, chế biến hải sản tại Gio Việt đã trở lại bình thường, song các mô hình chuyển đổi sinh kế trên bờ vẫn được xem là một hướng đi mới, hiệu quả và bền vững đối với người dân Gio Việt. Tuy nhiên, trong việc chuyển đổi sinh kế tại vùng biển, theo ông Thương vẫn còn một số trở ngại đó là cơ sở vật chất ở các vùng cát ven biển còn thiếu, hệ thống điện, tưới tiêu chưa được đầu tư... Việc đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp tại địa phương còn ít do nhận thức của người dân về trồng trọt, chăn nuôi còn hạn chế, do vậy cần có sự hướng dẫn, hỗ trợ về vốn, kỹ thuật của các ngành liên quan trong thực hiện chuyển đổi sinh kế. Sau sự cố môi trường biển xảy ra trong thời gian qua, địa phương cũng rút ra nhiều bài học quý, đặc biệt là bên cạnh việc chú trọng phát triển các ngành nghề sản xuất, chế biến hải sản, cần quan tâm hơn đến việc đa dạng các ngành nghề cho ngư dân. Trong đó có các ngành nghề không phụ thuộc vào biển nhằm giải quyết việc làm thường xuyên cho lao động địa phương.

 

Vùng cát ven biển tỉnh Quảng Trị có 25 xã thuộc 5 huyện trải dài trên 75km bờ biển, với tổng diện tích tự nhiên 38.057 ha, trong đó diện tích bãi cát, cồn cát khoảng 17.000 ha. Vùng cát ven biển được xác định là vùng khó khăn, nơi tỷ lệ hộ nghèo còn cao, điều kiện đi lại, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất còn nhiều hạn chế, sản xuất nông nghiệp đối diện với nhiều thách thức. Đặc biệt, thực tế thời gian qua cho thấy, người dân vùng biển đang chú trọng vào khai thác, đánh bắt thủy hải sản, chưa quan tâm phát triển sản xuất ở vùng ven bờ. Do vậy, sau khi sự cố môi trưởng biển xảy ra, nguồn thu nhập từ biển của ngư dân không còn, ngư dân có tâm lý hoang mang. Trước tình hình đó, các cấp, ngành đã có sự vào cuộc kịp thời, thực hiện khá thành công chương trình chuyển đổi sinh kế với hàng trăm mô hình kinh tế trên cát. Những thành công bước đầu từ các mô hình là tín hiệu vui, đưa lại niềm tin mới cho người dân vùng biển. Theo ông Võ Văn Hưng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT thì sự cố là thách thức lớn, song đây cũng là cơ hội để các vùng cát ven biển có những cách làm hay trong phát triển sản xuất, trong đó có việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; xây dựng các mô hình nông nghiệp công nghệ cao... đem lại hiệu quả kinh tế cao. Từ đó tạo ra sinh kế mới, giúp người dân thấy rằng, ngoài việc tăng cường khai thác hợp lý tiềm năng trên biển, còn có thể khai thác hiệu quả vùng ven bờ. Sản xuất nông nghiệp tại vùng cát ven biển cũng đưa lại nguồn thu nhập đáng kể, ổn định sinh kế cho người dân vùng ven biển.

 

Những kết quả đạt được vừa qua trong chuyển đổi sinh kế chỉ là bước đầu, ngành nông nghiệp sẽ tiến hành đánh giá, xem xét lại cách thức hỗ trợ trước mắt cũng như lâu dài trên cơ sở khai thác tiềm năng, lợi thế của vùng biển theo hướng khai thác bền vững. Vừa hỗ trợ cho ngư dân bằng các chính sách để người dân ra khơi đánh bắt, giữ vững chủ quyền biển, đảo, đồng thời tiến hành khai thác vùng ven bờ hợp lý, tăng cường khai thác tiềm năng đất đai ở vùng bờ, đó là cách khai thác toàn diện và hiệu quả nhất. “ Để thực hiện chuyển đổi sinh kế tại vùng biển đạt được nhiều kết quả hơn nữa trong thời gian tới, bên cạnh sự nỗ lực của ngành nông nghiệp, rất cần sự vào cuộc chặt chẽ và đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự tham gia của các tổ chức đoàn thể và sự ủng hộ của người dân. Trong đó có vấn đề tuyên truyền, nâng cao nhận thức, đưa các kiến thức khoa học kỹ thuật đến với người dân, xây dựng các mô hình điểm, các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ cao, khai thác tiềm năng vùng cát..., giúp người dân ven biển từng bước ổn định cuộc sống. Đồng thời, cần có sự tập trung huy động các nguồn lực đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống đường sá, thủy lợi, tưới tiêu..., để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân chuyển đổi sinh kế”, ông Võ Văn Hưng cho biết thêm.

Tác giả bài viết: Thanh Lê

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây