Screenshot 2024 05 19 at 10 34 01

Những người anh hùng thầm lặng ở bến đò B

Thứ tư - 02/05/2018 08:01 628 0
(QT) - Từ bến đò B, thôn Tùng Luật, xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, hàng ngàn chuyến đò ngược xuôi làm nhiệm vụ đưa đón cán bộ, bộ đội, thương binh, dân công và vũ khí đạn dược sang bờ Nam để phục vụ chiến trường trong những năm chiến tranh ác liệt từ 1962 đến tận ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mấy chục năm đã trôi qua, những người dân quân từng bám chốt ở bến đò B giờ người còn, người mất. Với những người đã gắn bó với bến đò này những năm tháng chiến tranh ác liệt, mỗi khi nhắc nhớ lại quá khứ, họ vẫn vẹn nguyên kí ức đẹp đẽ.
Một góc làng Tùng Luật
Một góc làng Tùng Luật

Những người đại đội trưởng dân quân của làng Tùng Luật thế hệ đầu tiên như ông Lê Trung Quốc, ông Lê Văn Còi giờ đã là người thiên cổ, chỉ còn lại một số người như ông Nguyễn Xuân Lý, bà Hồ Thị Đương, ông Nguyễn Minh Thai…, dù đã ngoài bảy mươi nhưng trí nhớ vẫn còn minh mẫn. Ông Thai nhớ một cách tường tận, bến đò Tùng Luật còn có tên là Bến đò B, một mật danh xuất phát từ yêu cầu phục vụ chiến trường miền Nam trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, vĩ tuyến 17 - sông Bến Hải trở thành giới tuyến chia cắt hai miền Nam - Bắc, khi Tùng Luật nằm trong khu vực phi quân sự thì bến đò Tùng Luật - Xuân Mỵ trở thành một trong 10 điểm được phép công khai qua lại thăm hỏi, giao lưu của nhân dân đôi bờ.

 

Từ sau năm 1958, Mỹ - Diệm tuyên bố khoá tuyến, cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử, tăng cường phá hoại Hiệp định Genève, dồn dân vào các trại tập trung, xây dựng các căn cứ quân sự; đưa thêm lực lượng cảnh sát ra các đồn ở khu vực phi quân sự với mục tiêu xây dựng phòng tuyến Nam sông Bến Hải để thực hiện kế hoạch “Lấp sông Bến Hải - Bắc tiến” thì tất cả các đường qua lại trên đường giới tuyến đều chấm dứt mọi hoạt động công khai. Bến đò Tùng Luật hội tụ đủ các điều kiện thuận lợi như là con đường ngắn nhất nối Vĩnh Linh với chiến trường Gio Linh, Triệu Phong, Đông Hà, bến đò nằm sát khu vực dân cư, địa hình xen lẫn những đồi đất đỏ thấp, cây cối nhiều, lợi thế cho việc ém quân và tập kết hàng hóa, lại chỉ cách Cửa Tùng khoảng 2 km theo đường sông, rất thuận tiện cho việc vận chuyển tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ nên được Bộ chỉ huy quân sự đặc khu Vĩnh Linh chọn làm điểm chiến lược.

 

Từ giữa năm 1967 đến đầu năm 1973, bến đò Tùng Luật đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ và xã đội Vĩnh Giang. Tại đây, thường xuyên có một đại đội dân quân gồm 80 người (lúc cao điểm lên tới 111 người), phiên chế thành 4 phân đội: phân đội chèo thuyền vượt sông, rà phá bom mìn; phân đội vận tải, tiếp tế cho Cồn Cỏ; phân đội bảo vệ pháo phòng không 12,7 ly và đại liên; phân đội đào địa đạo, công sự, hầm hào, lán trại, tổ chức cứu thương, di chuyển thương binh, tử sĩ và tập kết hàng hóa. Phân đội chèo thuyền vượt sông, rà phá bom mìn do ông Lê Văn Ban làm phân đội trưởng khá đặc biệt ở chỗ có quân số là nữ khá đông, gồm các o Thường, Khuyến, Hoa, Thỉ, Hậu, là những người rất giỏi tay chèo. Ông Thai, lúc bấy giờ là Khẩu đội trưởng B 40 bảo vệ bến đò B nhớ lại, ban đêm là thời điểm các phân đội hoạt động, những chiếc thuyền ban ngày được nhấn chìm xuống sông, phủ lá ngụy trang được kéo lên làm nhiệm vụ. Vận chuyển đạn dược, hàng hóa, vũ khí dưới làn mưa bom bão đạn, đòi hỏi những tay chèo phải hết sức gan dạ, bình tĩnh và khéo léo để vượt sông thành công, hạn chế thương vong về người và thất thoát hàng hóa. Những lúc cao điểm, mỗi ngày có hàng trăm chuyến đò qua lại phục vụ chiến trường phía nam. Để giảm thiểu thiệt hại do pháo kích của địch, mọi người đã nghĩ ra cách mỗi lần vượt sông, có 2 chiếc thuyền đi trước vừa vận chuyển, vừa rà phá bom mìn. Lúc hai chiếc này ra giữa dòng, hai chiếc sau mới xuất phát. Trong trường hợp hai chiếc đầu gặp nạn, hai chiếc sau sẽ làm nhiệm vụ cứu hộ. Khi hai chiếc đầu cập bến thì hai chiếc sau ra đến giữa dòng, khi đó nếu hai chiếc sau gặp sự cố thì hai chiếc đầu sẽ làm công tác cứu hộ. Không thể kể hết sự ác liệt của chiến tranh, nhất là đối với vùng giới tuyến Vĩnh Linh trong những năm từ 1967.

 

Lịch sử ghi lại: “Riêng tại bến đò B, B.52 dội bom không biết bao nhiêu lần. Máy bay không cần bổ nhào, cứ đến tọa độ đã chấm sẵn trên bản đồ là bấm nút vứt bom xuống, pháo đã tính toán sẵn phần tử, chập tối bắt đầu bắn và bắn mãi cho đến sáng. Có thứ vũ khí gì mới Mỹ đem dùng ở đây đầu tiên: bom bi nổ chậm, pháo bi, pháo nổ ra mũi tên, thủy lôi, từ trường…Vĩnh Giang bị địch đánh ác liệt hơn bất cứ thôn xóm nào của Vĩnh Linh cũng vì Vĩnh Giang có bến đò này”. Bất chấp hiểm nguy, bao thế hệ dân quân du kích Tùng Luật, với sự hỗ trợ của nhân dân Vĩnh Giang và các xã lân cận đã vừa bám trụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa phải đảm bảo duy trì hoạt động chi viện cho các chiến trường. Có gia đình, hai, ba thế hệ cùng sánh vai, cầm chèo tải đạn. Có những chuyến đi bị địch phát hiện, đánh chìm thuyền, hy sinh mất mát, nhưng người dân Tùng Luật không hề nao núng, vẫn kiên gan vững tay chèo.

 

Chỉ hơn 6 năm, tại bến đò này, 29 người con của Tùng Luật đã ngã xuống. Đối với chiến trường Bắc Quảng Trị, từ năm 1968 đến 1973, đã có hơn 78.000 chuyến đò qua lại trên bến đò B,, vận chuyển hơn 1,5 triệu lượt bộ đội, gần 400.000 lượt dân công, gần 2 vạn đồng bào Quảng Trị vừa được giải phóng sơ tán ra Vĩnh Linh theo kế hoạch K.15 năm 1972 và hàng vạn tấn lương thực, vũ khí.

 

Từ năm 1965, trước yêu cầu chi viện “vị trí tiền tiêu” Cồn Cỏ trước sự bao vây, hủy diệt của Mỹ, hàng chục người ở Tùng Luật đã viết 141 đơn đề nghị được tham gia phân đội tiếp viện Cồn Cỏ mà bến đò B là một trong những nơi xuất phát chính của tuyến vận tải chi viện. Trong hơn 6 năm, tại bến đò này 351 chuyến thuyền đã xuất phát, chi viện cho Cồn Cỏ trên 3.000 tấn lương thực, vũ khí, góp phần làm nên chiến thắng của Cồn Cỏ anh hùng.

 

Câu chuyện về những nhân chứng gắn liền với bến đò B càng trở nên cuốn hút khi ông Thai dẫn chúng tôi tìm gặp một nhân vật đặc biệt, bà Hồ Thị Đương, tiểu đội trưởng dân quân nữ tham gia trực chiến bến đò B những năm từ 1960 - 1967. Kỷ niệm khiến bà Đương nhớ nhất là lần kíp của bà trực, gồm bà Đường và một người khác, ban đêm đi tuần tra dưới chân đê dọc sông. Trong đêm tối, bà Đương phát hiện một bóng người lội dưới sông lên bờ. Rất nhanh trí, bà Đương hô to bắt đứng im, giơ tay lên. Rồi với vũ khí trong tay là chiếc sào tre và cuộn dây thừng, bà Đương nhanh chóng cùng với người đồng đội áp đến người lạ, trấn áp và buộc chặt tay, dẫn về đồn. “Về đến đồn, qua đấu tranh thì biết đó là một tên biệt kích, chúng tôi bàn giao người xong lại tiếp tục trở về làm nhiệm vụ. Câu chuyện nữ dân quân tuổi mười tám đôi mươi tay không bắt sống biệt kích được cấp trên khen, sau này tôi có vài lần được ra Quân khu 4 báo cáo thành tích, kể chuyện với các em sinh viên Trường ĐHSP Vinh, thấy vinh dự và tự hào”, bà Đương chia sẻ. Năm 1968, bà Đương được Đảng ủy xã giao nhiệm vụ đưa dân ra Hà Tĩnh sơ tán, đến năm 1973 mới trở về lại quê hương.

 

Bên bến đò B giờ là khung cảnh thanh bình với hàng dừa soi bóng xuống dòng sông yên ả, những buổi chiều, người dân thôn Tùng Luật rủ nhau thong thả ngồi hóng mát, những cụ ông, cụ bà rôm rả chuyện trò. Câu chuyện quá khứ có lúc nhớ, lúc quên, nhưng lịch sử đã nhắc nhớ bằng những trang vàng ghi chiến công của những người anh hùng thầm lặng góp một phần thanh xuân tươi đẹp của mình vì nhiệm vụ vẻ vang trên bến đò này.

Tác giả bài viết: Thanh Trúc

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây