QUẢNG TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH MÙA XUÂN 1975

Chủ nhật - 20/03/2022 22:24 200 0
Chiến dịch Xuân Hè 1972 là một chiến tích mang tầm vóc lịch sử, mãi mãi được ghi vào sử sách của dân tộc, thể hiện sự ngoan cường, anh dũng, bất khuất, vượt qua gian khổ hy sinh của quân và dân Quảng Trị, của cả dân tộc. Chiến dịch Xuân Hè 1972 đã đập tan hệ thống kìm kẹp, đập nát tuyến phòng thủ mạnh nhất quân sự của Mỹ nguỵ ở miền Nam, làm thay đổi cục diện trên chiến trường Trị - Thiên, tạo ra thế chiến lược quan trọng của cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi sau này. Thắng lợi to lớn đó thể hiện sức mạnh tiềm tàng của cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Du kích và bộ đội địa phương Hải Lăng truy kích địch ngày 18.3.1975. Ảnh: Sài Gòn giải phóng
Du kích và bộ đội địa phương Hải Lăng truy kích địch ngày 18.3.1975. Ảnh: Sài Gòn giải phóng
Quảng Trị là tỉnh đầu tiên của miền Nam được giải phóng. Đó là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, lực lượng ta đã đủ sức tiến hành một chiến dịch tiến công binh chủng hợp thành quy mô lớn, dài ngày trên diện rộng; thắng lợi này tỏ rõ sự trưởng thành vượt bậc, sức mạnh to lớn của quân và dân ta, sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Thắng lợi chiến dịch Xuân - Hè 1972 đã làm thay đổi cục diện trên chiến trường Trị - Thiên, thế ta càng thắng, lực ta càng mạnh, dồn địch vào thế khó khăn, lúng túng và suy yếu; tạo khí thế, quyết tâm để quân và dân ta thực hiện lời của Bác: “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Ngày 1-5-1972, Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng, đánh dấu một móc son vẽ vang trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Sau gần 20 năm trời chúng ta đổ bao xương máu chiến đấu, hy sinh, người này ngã xuống, người khác tiến lên để thực hiện bằng được khát vọng thống nhất non sông, mỗi người dân Quảng Trị càng hiểu sâu sắc giá trị chân lý vĩ đại trong lời kêu gọi kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”. Từ đây, nhân dân Quảng Trị đã rũ bỏ được gông cùm nô lệ, trở thành người làm chủ cuộc đời, xây dựng xã hội mới - XHCN.
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị kéo dài 81 ngày đêm (từ 28-6 đến 16-9-1972), gắn cùng với dòng sông Thạch Hãn đầy bi tráng đi vào lịch sử như bản hùng ca bất tử, lay động lương tri loài người, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mãi mãi khắc ghi trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Đánh giá sự kiện này, đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư của Đảng ta nói: “Chúng ta chịu được không phải vì chúng ta gang thép, vì gang thép cũng cháy với bom đạn của chúng, mà chính ta là con người, con người thực sự, con người Việt Nam với truyền thống 4000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại”.
Với những thắng lợi to lớn trên cả 3 mặt trận: Quân sự, chính trị, ngoại giao, đặc biệt là thắng lợi oanh liệt đập tan cuộc tập kích 12 ngày đêm bằng không quân của Mỹ vào cuối năm 1972, quân và dân ta đã đập tan mọi âm mưu “Đàm phán trên thế mạnh” của Nich-Xơn. Ngày 27-1-1973 Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Một hội nghị kéo dài 4 năm 9 tháng với 202 phiên họp và 24 cuộc tiếp xúc riêng. Đế quốc Mỹ tuy đã bị thất bại, buộc phải ký kết Hiệp định Paris lập lại hoà bình, rút quân về nước…, nhưng chúng với bản chất hết sức ngoan cố, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta, cố duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở Việt Nam.
Nghị quyết Bộ Chính trị đã khẳng định mục địch của ta ký Hiệp định là giữ nguyên thế lực của mình ở miền Nam, tiến lên tiếp tục tấn công địch, quyết tâm giành thắng lợi hoàn toàn. Đồng chí Lê Duẩn cũng chỉ rõ: Lúc này chúng ta có thời cơ. Đây là thời cơ thuận lợi để nhân dân ta hoàn toàn giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc, dân chủ.
Sau Hiệp định Pa-ri ký kết, tỉnh ta có vùng giải phóng rộng lớn (Chiếm 85% đất đai toàn tỉnh), tương đối hoàn chỉnh, bao gồm cả đồng bằng, trung du, miền núi, miền biển và liên hoàn nối liền với Vĩnh Linh, miền Bắc XHCN, vùng giải phóng miền Tây Thừa Thiên-Huế và vùng giải phóng Hạ Lào. Quảng Trị là nơi đặt trụ sở của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, là khu vực có Uỷ ban quốc tế và tổ chức “hai bên” để giám sát việc thi hành Hiệp định Pa-ri.
Vì vậy, vùng giải phóng Quảng Trị lúc này trở nên một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng không những về mặt quân sự mà cả về mặt chính trị, ngoại giao, kinh tế, vừa làm nhiệm vụ giải phóng phần đất còn lại của tỉnh, vừa là một trong các căn cứ làm bàn đạp tiến công trên chiến trường quân khu của quân chủ lực bộ, là cửa ngõ hậu phương toàn miền, là một trong các nơi thể hiện cuộc đấu tranh tổng hợp vừa mang tính chất địa phương, vừa mang tính chất Trung ương của hai thế lực tượng trưng cho hai chế độ trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do đó, mọi hoạt động của tỉnh ta đều có ảnh hưởng liên quan trực tiếp đến tình hình chung của toàn miền và cả nứơc.
Cũng chính vì vậy mà quân địch đã tập trung lực lượng ở Quảng Trị, mở những cuộc hành quân lớn với ý định tái chiếm lại những vị trí quan trọng, bắn hàng ngàn quả pháo vào các vùng giải phóng, bọn phản động nội địa dùng nhiều thủ đoạn thâm hiểm như cắt đứt dây điện thoại, tung tiền giả và tung ra những luận điệu tuyên truyền, “tâm lý chiến”…hòng làm cho nhân dân ta hoang mang, dao động, không ổn định sản xuất và cuộc sống.
Sau khi nghiên cứu Nghị Quyết của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Khu uỷ Trị-Thiên, Hội nghị Tỉnh uỷ ra Nghị quyết “Quyết tâm phá vỡ từng mảng tuyến ngăn chặn, chia vùng của địch, giành và giữ dân, giải phóng đại bộ phận nông thôn, đồng bằng còn lại bị địch kiểm soát”.
Tất cả các lực lượng du kích, bộ đội địa phương có mặt ở phía trước. Với tinh thần chuẩn bị chiến trường vừa tiến công địch, vừa tiến công địch vừa chuẩn bị chiến trường, trong hơn một tháng từ 20-1-1975 đến 20-2-1975 lực lượng vũ trang Quảng Trị đã đánh địch 35 trận lớn nhỏ với nhiều hình thức khác nhau như tập kích, phục kích, bắn B40, B41…đã làm tiêu hao phần lớn sinh lực địch.
Nhằm mục đích vừa bảo đảm sẳn sàng chiến đấu vừa nghi binh lừa địch, Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên tổ chức một cuộc diễn tập thực binh ở Bắc Quảng Trị. Vào giờ quy định các trọng điểm như Cửa Việt, Đông Hà, Mai Lộc đều được báo động chiến đấu. Cuộc diễn tập được tiếp tục vài ngày sau ở các hướng thứ yếu. Cuộc diễn tập nghi binh đã làm cho bọn địch lúng túng, mất phương hướng, bị động, không phán đoán được quy mô chiến dịch tấn công của ta.
Tình hình đang diễn biến thuận lợi cho ta, từ 0 giờ ngày 8-3-1975 các lực lượng vũ trang, dân quan du kích đồng loạt tập kích vào các cứ điểm, điểm cao của địch. Vừa tấn công địch vừa phát động quần chúng nổi dậy với nhiều hình thức khác nhau. Trước sự tấn công bất ngờ, đồng loạt và mạnh mẽ của quân ta, ngày 9-3-1975 địch phải rút bỏ 21 chốt ở phía Tây Hải Lăng, đồng thời chúng huy động thêm nhiều lực lượng để ứng phó và phản kích quyết liệt.
Cuộc chiến đấu tiếp tục diễn ra gay go, ác liệt, song sau 3 ngày (từ khi chiến dịch mở màn) quân và dân tỉnh ta đã đánh trúng huyệt, hàng trăm tên ác ôn bị diệt, nhân dân ở nhiều thôn, xã được phát động, nổi dậy với khí thế giành quyền làm chủ, tạo được thế trận du kích chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ, rộng rãi, thế địch bị suy yếu và chuẩn bị tháo chạy khi chúng ta tiến công.
Cùng với chiến thắng dồn dập ở Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột, thực hiện mệnh lệnh của quân uỷ Trung ương, kế hoạch của Đảng uỷ Mặt trận, nắm bắt thời cơ, đêm 18 rạng sáng 19-3-1975 lực lượng vũ trang Quảng Trị bất thần tấn công vào bộ tuyến phòng ngự của địch, giải phóng phần đất còn lại.( thuộc huyện Hải Lăng)
Đúng 18 giờ 30 phút ngày 19-3-1975, tỉnh Quảng Trị hoàn toàn giải phóng, lá cờ cách mạng tung bay trên cột cờ thị xã Quảng Trị, báo hiệu sự thất bại cay đắng của Mỹ - nguỵ trên tuyến phòng thủ “địa đầu” của chúng ở miền Nam.
Những ngày cuối tháng 3 và tháng 4-1975, tỉnh Quảng Trị đã tập trung sức lực tham gia phục vụ chiến dịch Huế - Đà Nẵng, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần tích cực cùng với toàn miền và cả nước quét sạch dinh luỹ cuối cùng của chủ nghĩa thực dân kiểu mới, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Tác giả bài viết: Lê Như Tâm - TGQT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây