Sáng mãi tinh thần những người “dời non lấp biển”. Bài 1: Một thời tuổi trẻ quyết xông pha

Thứ hai - 20/06/2022 23:37 21 0
(QTO) - Ra đời trong bối cảnh đặc biệt, được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, lực lượng thanh niên xung phong (TNXP) đã có những đóng góp to lớn công sức, trí tuệ, máu xương và cống hiến tuổi thanh xuân cho hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc. Trong công cuộc tái thiết quê hương, lực lượng TNXP lại có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất, lao động quên mình để hàn gắn vết thương chiến tranh, dựng xây cuộc sống mới. Vâng lời Bác Hồ dạy: “Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/Quyết chí ắt làm nên”, bao lớp TNXP Quảng Trị đã cống hiến một thời tuổi trẻ sôi nổi xông pha nơi tuyến đầu bảo vệ và xây dựng quê hương…
Vợ chồng ông Nguyễn Quang Trình, xã Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Linh với niềm vui tuổi già - Ảnh: T.T
Vợ chồng ông Nguyễn Quang Trình, xã Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Linh với niềm vui tuổi già - Ảnh: T.T
Đặc khu Vĩnh Linh đáp lời gọi “Ba sẵn sàng”
 
“Sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng gia nhập các lực lượng vũ trang, sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến”, năm 1964, từ miền Bắc, phong trào “Ba sẵn sàng” được phát động. Lời thề ấy đã đi vào lịch sử như một minh chứng hào hùng cho nhiệt huyết cách mạng của bao lứa thanh niên Việt Nam.
 
Tiếp lửa cho phong trào “Ba sẵn sàng”, năm 1965, tại Đặc khu Vĩnh Linh, ngoài các đơn vị TNXP chống Mỹ, cứu nước của trung ương hoạt động, Ủy ban hành chính khu vực Vĩnh Linh đã quyết định thành lập các đại đội TNXP 331, 771, ĐKT2-XB, 368, C371 để tăng cường lực lượng phục vụ chiến đấu cho chiến trường miền Nam và bảo vệ các mục tiêu trọng điểm của khu vực.
 
Đang là Bí thư Xã đoàn Vĩnh Thạch (nay là xã Kim Thạch), huyện Vĩnh Linh, ông Nguyễn Văn Thả tham gia Đại đội TNXP 771. Với niềm tự hào tham gia đoàn quân “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, vượt qua mưa bom bão đạn của kẻ thù và muôn vàn hiểm nguy rình rập, các đội viên “vai trăm cân, chân vạn dặm”, vững tay cuốc, tay xẻng mở đường, tải đạn, vận chuyển hàng hóa, thư tín, đưa đón cán bộ, bộ đội ra Bắc vào Nam, chuyển thương binh về tuyến sau. Đây cũng chính là lực lượng mở đường và khi cần thiết trực tiếp tham gia chiến đấu trên tuyến đường 19/5 phía Tây tỉnh Quảng Trị từ Bắc sông Bến Hải đến Khe Nghì - Bắc sông Ba Lòng.
 
Tháng 9/1971, địch mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào tuyến Đường 9 - Nam Lào. Chúng đổ quân chặn đường ra vào của quân ta, khống chế một vùng rộng lớn, đơn vị nằm trong thế bị bao vây tứ bề. “Để bảo toàn lực lượng, cấp trên lệnh cho đơn vị rút ra đường độc đạo bên sườn dốc của đỉnh núi Voi Mẹp, nơi mà chúng không ngờ tới, chỉ để lại 11 đồng chí bảo vệ kho hàng, vũ khí, sẵn sàng chiến đấu cảm tử khi bị địch phát hiện. Tiểu đội bố trí đội hình ở khe Giang Thoan, ngay dưới cao điểm 1001, hằng ngày ăn lương khô, uống nước suối, ngụy trang giữ bí mật tuyệt đối để không bị lộ. Sau gần một tuần lùng sục, địch qua lại vẫn không phát hiện được nơi bám trụ của ta và rút quân. Riêng trạm của tôi có kho lương thực bị địch phát hiện, nghi ngờ và đánh bom ác liệt. Chỉ huy quyết định hủy kho lương thực, không để lọt hàng vào tay địch”, ông Thả nhớ lại những phút giây đối mặt với hiểm nguy.
 
Khi tình nguyện viết đơn tham gia lực lượng TNXP, Đại đội ĐKT2 - XB theo tiếng gọi “Ba sẵn sàng” của Đảng, cậu thanh niên 18 tuổi Nguyễn Quang Trình (nay đã 72 tuổi, sống tại xã Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Linh) suy nghĩ đơn giản: “Là thanh niên thì phải xông pha tuyến đầu”. Chỉ với sức người và dụng cụ thô sơ, đại đội của ông đã đào đắp hàng vạn mét khối đất đá, hàng chục cây số giao thông hào nối thông từ cơ quan Khu ủy Vĩnh Linh ở xóm Khe đến cơ quan Ủy ban hành chính khu vực Vĩnh Linh (thôn Nam Cường), xã Vĩnh Nam, xây dựng nhiều căn cứ, hậu cứ cho Khu ủy Trị Thiên và Tỉnh ủy Quảng Trị… Ông Trình sôi nổi kể: “Chúng tôi dùng những chiếc cuốc lưỡi chim cán dài 60 cm để đào, chuyển đất trong lòng địa đạo ra bằng xe cút kít đẩy tay hay bằng trục gỗ quay tay và trạc, dây thừng đan, bện từ tre. Để có ánh sáng thì dùng dầu ma dút, mỡ lợn hoặc đốt đuốc. Chính vì vậy mà sau mỗi giờ thay ca, anh chị em ướt đẫm mồ hôi nhuộm với khói dầu mỡ hay bụi than của đuốc, người đen bóng như ở hầm lò ra, mũi hít phải khói bụi đen đặc có lúc bị ngạt thở”.
 
Quãng thời gian tham gia vận chuyển hàng hóa tiếp tế, chi viện cho đảo Cồn Cỏ vào năm 1968 dù ngắn nhưng cũng nhiều dấu ấn trong ký ức của ông Thả. “Trước sự quần thảo ác liệt của máy bay Mỹ đối với đảo Cồn Cỏ, việc tiếp tế lương thực và vũ khí cho bộ đội giữ đảo gặp nhiều khó khăn. Trước mỗi chuyến đi, với kinh nghiệm của hàng chục năm lăn lộn ngoài biển khơi, các đội thuyền đã vạch kế hoạch vượt biển táo bạo, đến với đảo giữa ban đêm, ban ngày, len lỏi, luồn qua lửa đạn và cũng có nhiều chuyến đi không có người trở về. Có một chuyến đi, tàu của tôi trên đường về thì gặp mưa giông lớn. Trên mỗi thuyền đều trang bị sáu ống phao tre, được kết từ hai thanh tre dài 1,5m, to bằng bắp chân người lớn để làm phao cứu sinh. Thuyền bị đánh đắm, nhiều người thoát chết nhờ ôm phao này”, ông Trình chợt trầm tư khi nhớ đến nhiều đồng đội của mình không may nằm lại giữa biển khơi.
 
Ông Nguyễn Văn Thả, xã Kim Thạch, huyện Vĩnh Linh chia sẻ với phóng viên kỷ niệm thời TNXP sôi nổi - Ảnh: T.T
 
Tinh thần dũng cảm của lớp đàn anh đi trước đã tiếp thêm sức mạnh cho những cô gái TNXP mới mười tám, đôi mươi lúc bấy giờ như cô Nguyễn Thị Khiếu (nay đã 71 tuổi, ở thôn Mạch Nước, xã Vĩnh Thái) ngày đêm không quản ngại hiểm nguy tham gia bốc hàng cho những chuyến tàu tiếp tế ra đảo. “Thời điểm đó, quân dân Vĩnh Linh nêu quyết tâm kiên quyết giữ vững đảo Cồn Cỏ đến cùng với bất kỳ giá nào, cả Vĩnh Linh sục sôi khí thế tình nguyện lên đường tiếp tế cho đảo. Lực lượng TNXP nữ như chúng tôi thì nhận nhiệm vụ bốc hàng hóa lên tàu thuyền để chuẩn bị cho những chuyến ra đảo của các lực lượng khác. Không sợ bom đạn, không sợ chết, chỉ lo không có lương thực và đạn dược cho bộ đội giữ đảo”, bà Khiếu chia sẻ giản dị.
 
Lực lượng TNXP tập trung, TNXP cơ sở của Đặc khu Vĩnh Linh đã đóng góp to lớn vào chiến công của mảnh đất “lũy thép” qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng như kiến thiết, xây dựng quê hương.
 
Vững vàng trong gian khổ, hy sinh
 
Ký ức đẹp đẽ của bà Nguyễn Thị Hồng Loan (nay ở TP. Đông Hà), từng là Trung đội trưởng Trung đội nữ B30 - VK2 là những tháng năm tuổi trẻ xông pha trên tuyến vận tải 3/2 để vận chuyển vũ khí, lương thực kịp thời cho “chiến dịch 72”. Bà nhớ lại: “Chúng tôi được biên chế vào Trung đội nữ B30 - VK2 cuối năm 1971, cũng là thời kỳ cả nước dốc sức cùng miền Nam đánh thắng kẻ thù. Là phụ nữ, mới mười tám, đôi mươi, đảm nhận nhiệm vụ nặng nề và không kém phần nguy hiểm, nhưng các chị em đều rất gan dạ, dũng cảm.
 
Tôi nhớ có lần chị em vận chuyển đạn từ sông Ba Lòng vào trạm xép, là nơi tập kết hàng hóa để tiếp tục gùi cõng vào Trạm 7 - trạm trung chuyển và Trạm 8 (trạm Hang đá) ngược ra nhận hàng. Trên đường đi, chúng tôi bị máy bay địch vây suốt cả ngày, bom dội như trút. Mấy chị em nằm giữa bãi tranh, níu chặt từng bụi tranh đến bật gốc, tưởng chừng không có ngày trở về. Cái chết cận kề trong gang tấc nhưng không ai nao núng, chỉ cầu mong không bị địch phát hiện để bảo toàn hàng hóa. Nhớ những đêm mùa đông trong hang, hơi đá lạnh bốc lên ngùn ngụt, chị em ôm lấy nhau để sưởi ấm cho nhau, động viên nhau ngủ lấy sức để ngày mai tiếp tục công việc. Những buổi dẫn đường cho quân ta đi về phía Nam, nghỉ chân bên khe suối đầy sên, vắt, cảnh gùi hàng nặng, đá trơn, trượt chân lăn vào bụi rậm bị thương… Vất vả, gian nan khó nói hết bằng lời, nhưng chúng tôi vẫn vững vàng hoàn thành nhiệm vụ”.
 
Cùng với lực lượng TNXP cả nước thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tháng 4/1965, Tỉnh ủy Quảng Trị quyết định thành lập Liên đội TNXP giải phóng Quảng Trị, lấy đội TNXP xã Hải Lệ làm nòng cốt. Sau một tháng thì liên đội tuyển đủ quân số gồm 300 thanh niên ưu tú tuổi đời từ 16 - 25. Nhiệm vụ của liên đội là nắm tình hình hoạt động của địch, vận chuyển lương thực, thuốc men, vũ khí, chuyển thương binh về nơi an toàn... Với lòng dũng cảm, ý chí quyết thắng, không sợ gian khổ, hy sinh, liên đội TNXP cùng với bộ đội địa phương liên tục phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu trong nhiều chiến dịch quan trọng.
 
Từ một liên đội được thành lập trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng TNXP Quảng Trị ngày càng lớn mạnh, đã vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm chi viện cho chiến trường Trị Thiên, tải thương, chăm sóc thương binh, chôn cất tử sĩ, đào hầm hào, tham gia xây dựng đường dẫn xăng dầu từ Bắc vào Nam, xây dựng căn cứ, hậu cứ cho các cơ quan lãnh đạo Tỉnh ủy và Khu ủy Trị Thiên, tham gia bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị ... Trực tiếp mở nhiều tuyến đường vận chuyển Đông, Tây Trường Sơn, đồng bằng, trung du, đường bộ, đường biển, đường sông. Cùng Đoàn 559 bảo đảm thông suốt 65 km đường mòn Hồ Chí Minh qua Tây Nam Quảng Trị, tham gia lắp đặt hàng trăm cây số đường ống dẫn dầu vào chiến trường, đặc biệt khai thác hiệu quả tuyến đường biển, đường sông Bến Hải, sông Hiếu, sông Thạch Hãn và các bến đò…để vận chuyển lương thực, vũ khí, đưa đón lực lượng phục vụ cho các chiến trường…
 
Chừ đượm mồ hôi để ngày mai say mùa...*
 
Trong muôn vàn khó khăn khi quê hương vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, trước những yêu cầu bức thiết của cuộc sống, ngày 8/3/1978, công trình thuỷ nông Nam Thạch Hãn được khởi công để phục vụ nước tưới cho vùng đồng bằng Triệu Hải. Đây là công trình huy động lực lượng của toàn tỉnh Bình Trị Thiên, chủ yếu là các Sư đoàn 202 của huyện Lệ Ninh (Quảng Bình), Bến Hải, Triệu Hải (Quảng Trị), Hương Điền (Thừa Thiên)… Trong đó, Sư đoàn 202 huyện Triệu Hải có 43 đại đội với quân số lúc cao nhất là 7.300 người, Sư đoàn 202 huyện Bến Hải gồm 31 đại đội với gần 4.000 người. Nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 202 Bến Hải Phạm Văn Sải nhớ lại, đó là thời kỳ gian nan, khổ cực, nhiều người đã hy sinh ngay trên công trường.
 
“Năm 1981, một đại đội của Sư đoàn 202 Bến Hải vinh dự được Tổng Bí thư Lê Duẩn đến thăm khi đang thi công kênh chính tại huyện Triệu Phong. Không chỉ hỏi thăm ân tình, chia sẻ những khó khăn, gian khổ, bác Duẩn còn vào tận lán trại để xem nơi đặt bếp nấu ăn, nơi nghỉ ngơi của TNXP. Khi giở phần cơm của một tổ sản xuất đang dọn sẵn trên bàn, thấy chỉ một ấm nước vối cùng khoai, sắn là chính, hoàn cảnh ấy khiến bác rưng rưng xúc động... Sự quan tâm sâu sắc của Tổng Bí thư Lê Duẩn đã trở thành động lực lớn lao, giúp hàng ngàn thanh niên vượt qua khó khăn, nguy hiểm, đưa phong trào lao động sản xuất trên đại công trình khí thế hơn”, ông Sải xúc động kể lại.
 
Bằng sức người với phương tiện thô sơ, hơn hai vạn con người, chủ công là lực lượng TNXP đã lăn lộn suốt mấy năm trời xây dựng đại công trình Nam Thạch Hãn. Trong bài viết “Công trường đại thủy nông Nam Thạch Hãn - Những ký ức không thể quên”, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Nguyễn Đức Hoan, một trong những người trực tiếp tham gia chỉ huy xây dựng công trình đã kể lại: “Tuy đã rất tích cực đề phòng nhưng là vùng đất bị bom đạn Mỹ cày xới nhiều nên dù trên mặt đất được rà phá tương đối an toàn, thì khi đào sâu xuống lại gặp phải bom mìn gây thương vong.
 
Đơn vị Hương Điền chỉ trong một ngày có 7 thanh niên gặp nạn, đơn vị Lệ Ninh sau nhiều tháng đi lại trên một lối mòn, sau cơn mưa một nữ thanh niên 18 tuổi bước tránh vũng nước đã bị mìn nổ cắt mất bàn chân. Bom đạn như vậy nhưng không một ai lùi bước, người này ngã xuống người khác xông lên như trong chiến đấu vậy”.
 
Định kỳ, công trường tổ chức hội diễn văn nghệ với các sáng tác tự biên, tự diễn để ca ngợi tinh thần lao động của các lực lượng. Nhạc sĩ Trần Hoàn trong một lần đến thăm đại công trường thủy nông Nam Thạch Hãn đã sáng tác bài hát “Câu hò trên công trường Nam Thạch Hãn” với nền điệu hò khoan của người Quảng Bình vốn có sức lay động mạnh mẽ đã cổ vũ không khí lao động tập thể hăng say:
 
“…Anh em ta ơi, ới chị em ơi.
 
Ta bắt tay vào nhanh ta đào thật sâu
 
Khoan ơi dô khoan xin mời các bạn
 
Khoan ơi dô khoan ơi hò là dố khoan
 
Chừ đượm mồ hôi để ngày mai say mùa
 
Cho đồng hoang hóa lên xanh lúa xanh màu…”
 
Từ khi bổ nhát cuốc, nhát xẻng đầu tiên tại thôn Đá Đứng, xã Hải Lệ vào tháng 3/1978, trải qua ròng rã hơn 4 năm, các đơn vị đã đào, đắp xây dựng được 16,4 km kênh chính; 67 km kênh cấp 2; 64 km kênh cấp 3. Việc xây dựng thành công công trình thủy nông Nam Thạch Hãn lúc bấy giờ đã đưa nước tưới cho hơn 5.500 ha lúa hè thu của các huyện Triệu Phong, Hải Lăng và một phần của huyện Hương Điền, Thừa Thiên Huế.
 
Với công trình thủy nông Nam Thạch Hãn, lực lượng TNXP sau ngày quê hương giải phóng đã tiếp nối xứng đáng truyền thống của TNXP chống Mỹ cứu nước, tạo dấu ấn đậm nét trong những trang vàng của lịch sử TNXP Quảng Trị. Những mùa vàng ấm no của hàng vạn nông dân hôm nay được đánh đổi bằng mồ hôi và cả những mất mát, hy sinh thầm lặng của bao TNXP cống hiến một phần tuổi trẻ trên công trường này.
 
* Trích lời trong bài hát “Câu hò trên công trường Nam Thạch Hãn” của nhạc sĩ Trần Hoàn
 
Thanh Trúc - Kăn Sương - Lệ Như
 
Bài 2Tuổi trẻ xông pha, về già gương mẫu
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây