Ban biên tập trân trọng giới thiệu toàn văn Báo cáo:
BÁO CÁO VỀ CÁC VĂN KIỆN TRÌNH ĐẠI HỘI XIV ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM-----
Kính thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội,Thưa các vị khách quý,Thưa toàn thể các đồng chí đại biểu Đại hội,
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị đặc biệt trọng đại của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là dấu mốc mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh, cục diện và mục tiêu mới; là Đại hội của ý chí tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, của khát vọng vươn lên, của niềm tin son sắt vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Đại hội XIV diễn ra trong thời điểm lịch sử có ý nghĩa sâu sắc: Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết, thống nhất, quyết tâm vững bước tiến tới hai mục tiêu chiến lược: 100 năm đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2030) và 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045). Từ đó đặt ra yêu cầu: Phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình; phải quyết tâm đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia; phải hành động mạnh mẽ, quyết liệt, đột phá, hiệu quả, vì một Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hệ thống dự thảo các văn kiện trình Đại hội bao gồm: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII; Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Dự thảo Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025) và đề xuất, định hướng sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Trong đó, Dự thảo Báo cáo chính trị tích hợp đồng bộ 3 Báo cáo (Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội và Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng) tạo thành một chỉnh thể thống nhất, toàn diện, rõ trọng tâm, trọng điểm, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ triển khai.
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV là "đột phá" so với các đại hội trước đây, chỉ rõ "chủ thể, lộ trình, nguồn lực, đích đến" để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV.Được sự uỷ quyền của Hội nghị Trung ương 15 khoá XIII, Bộ Chính trị đề xuất Đại hội cho chủ trương Tổng kết 100 năm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2030) với cách mạng Việt Nam, định hướng phát triển đất nước của 100 năm tiếp theo (2030 - 2130); Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Quá trình chuẩn bị Văn kiện được tiến hành công phu, nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học, hiện đại; kế thừa tinh hoa của các kỳ đại hội trước, kiên định các hệ quan điểm mang tính nguyên tắc, đồng thời thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển, bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan; từng nhận định, từng mục tiêu, từng giải pháp đều xuất phát từ thực tiễn. Đặc biệt, Văn kiện lần này đặt ra yêu cầu hành động: Nói đi đôi với làm; xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp; gắn trách nhiệm với kết quả; gắn đột phá với bền vững; gắn kỷ luật thực thi với sự hài lòng của Nhân dân.
Trong quá trình hoàn thiện Văn kiện, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặc biệt coi trọng việc phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, lắng nghe sâu sắc tiếng nói của đảng viên, của Nhân dân, của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, đồng bào ta ở trong và ngoài nước. Dự thảo các văn kiện đã được thảo luận rộng rãi trong toàn Đảng, công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, lấy ý kiến các đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức phong phú.
Chỉ trong 1 tháng đã có gần 5 triệu lượt cán bộ, đảng viên, Nhân dân đóng góp hơn 14 triệu lượt ý kiến gửi về các Tiểu ban Văn kiện, được chắt lọc, tiếp thu nghiêm túc, góp phần làm nên một Báo cáo chính trị là sự kết tinh trí tuệ, sức mạnh của Nhân dân, là sự hoà quyện giữa ý Đảng với lòng dân, thực sự là "ngọn đuốc soi đường", là "cẩm nang hành động" cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.Toàn văn các Báo cáo đã được gửi đến các đại biểu tham dự Đại hội. Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, tôi xin báo cáo, nhấn mạnh một số nội dung trọng tâm và điểm mới của dự thảo các văn kiện để Đại hội xem xét, thảo luận và cho ý kiến quyết định.
I - DẤU ẤN NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XIII: NĂNG LỰC, BẢN LĨNH, KIÊN ĐỊNH, VỮNG VÀNG
Nhiệm kỳ Đại hội XIII diễn ra trong điều kiện đặc biệt, với nhiều khó khăn đan xen, nhiều thách thức chồng lấn. Đó là thiên tai, bão lũ, dịch bệnh; các rủi ro an ninh truyền thống và phi truyền thống; cạnh tranh chiến lược gay gắt; biến động, đứt gãy chuỗi cung ứng, năng lượng, lương thực; cùng với những vấn đề nội tại tích tụ qua nhiều năm. Trong bối cảnh "lửa thử vàng, gian nan thử sức", Đảng ta đã thể hiện bản lĩnh, năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu, tinh thần đoàn kết thống nhất; thể hiện ý chí, khát vọng phát triển, kiến tạo tương lai, tư duy đổi mới, hành động quyết liệt; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII với nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, đột phá, nhiều điểm sáng nổi bật, cơ bản hoàn thành các mục tiêu chủ yếu đề ra.
Nền kinh tế nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, giữ vững ổn định vĩ mô, duy trì được đà tăng trưởng khá; tiềm lực, sức chống chịu và khả năng thích ứng được nâng lên, tạo nền tảng và dư địa quan trọng phát triển nhanh và bền vững hơn trong giai đoạn tới.
Nhiều quyết sách chiến lược mang tính đột phá đã được triển khai quyết liệt. Đặc biệt, cuộc cách mạng về đổi mới, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính đạt được các mục tiêu chiến lược, là bước chuyển quan trọng về tư duy quản trị quốc gia, mở ra không gian phát triển mới, vì tương lai lâu dài của đất nước. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, toàn diện, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, niềm tin của Nhân dân được củng cố, kỷ cương được tăng cường. Phát triển con người, văn hoá, xã hội có nhiều tiến bộ; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân tiếp tục được cải thiện và không ngừng nâng cao. Sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy; đồng thuận xã hội được tăng cường, củng cố.
Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, môi trường hoà bình được giữ vững; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, nâng tầm, đi vào chiều sâu. Vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Việt Nam đang là một điểm sáng được thế giới đánh giá cao về an toàn, ổn định xã hội; về đột phá tư duy, tầm nhìn, cách làm mới trong lãnh đạo và quản trị phát triển.Kết quả toàn diện của nhiệm kỳ Đại hội XIII tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng. Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ngày càng được bồi đắp vững chắc, tạo tiền đề quan trọng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với khí thế mới, quyết tâm mới và khát vọng mới.
Cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước có được như ngày hôm nay là sự hội tụ, kết tinh truyền thống văn hoá hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là thành quả của 96 năm xây dựng và phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; là kết quả của 40 năm đổi mới; là quá trình liên tục đổi mới tư duy lãnh đạo trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; là sự hy sinh, quên mình của biết bao thế hệ chiến sĩ cách mạng tiền bối, các đảng viên cộng sản, của đồng bào, đồng chí đã tận tuỵ lao động sản xuất, anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội; là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là biểu hiện sinh động của ý chí bền bỉ, tinh thần sáng tạo, lòng yêu nước nồng nàn của con người Việt Nam trong tiến trình phát triển. Nhiệm kỳ Đại hội XIII tiếp tục khẳng định bài học lớn: Trong "sóng to gió lớn", thậm chí là "bão táp", điều quyết định là bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, là ý chí thống nhất, là sức mạnh đại đoàn kết, là phương pháp tổ chức thực hiện, là kỷ luật, kỷ cương và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân.
Chúng ta có quyền phấn khởi, tự hào về những kết quả quan trọng, nổi bật đã đạt được. Nhưng tự hào để thêm trách nhiệm, thêm động lực phấn đấu, tuyệt đối không được "ngủ quên bên vòng nguyệt quế". Chúng ta đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém và những điểm nghẽn cần tập trung tháo gỡ: Từ bất cập về thể chế, nguồn lực, hạ tầng; hạn chế trong tổ chức thực hiện và kỷ luật, kỷ cương đến tình trạng một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu; nhiều vấn đề xã hội, môi trường, đời sống dân sinh còn bức xúc... Nhận diện đúng để có giải pháp đúng, hành động đúng. Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là phải chuyển mạnh sang hành động, giải quyết có hiệu quả những hạn chế, điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển đất nước.
Nhìn lại 40 năm đổi mới, với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có những đóng góp nổi bật của nhiệm kỳ Đại hội XIII, chúng ta có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Đường lối đổi mới của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại. Đường lối đổi mới của chúng ta xác định rõ Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của sự nghiệp cách mạng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhất quán xây dựng và hoàn thiện 3 trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn lãnh đạo cách mạng qua bốn thập kỷ đổi mới, chúng ta đúc kết 5 bài học kinh nghiệm quý báu:
Thứ nhất, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới của Đảng, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển bền vững; không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Thứ hai, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở gần dân, vì dân, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ. Đề cao trách nhiệm, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Thứ ba, quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm "Dân là gốc", phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân. Tăng cường củng cố và phát huy sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; thực hành "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ.
Thứ tư, bám sát thực tiễn, dự báo đúng tình hình; phản ứng chính sách chủ động, linh hoạt, kịp thời, phù hợp; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm; phân công, phân cấp, phân quyền rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả; kiểm tra, giám sát chặt chẽ; nâng cao chất lượng thể chế; tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ năm, không ngừng đổi mới tư duy, nhất là tư duy chiến lược; nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; tôn trọng quy luật khách quan, phòng, chống bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, cơ hội, bảo thủ...
II - NHỮNG CỐT LÕI TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VĂN KIỆN: TINH THẦN CẦU THỊ, KHOA HỌC, HÀNH ĐỘNG
Thứ nhất: Trung thành tuyệt đối với đường lối, Cương lĩnh của Đảng, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống nghìn năm văn hiến của dân tộc, thành quả, trí tuệ của toàn Đảng, to