Gắn lời hứa với trách nhiệm
Nhằm nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, gắn trách nhiệm người đứng đầu với “sản phẩm” cụ thể trong lãnh đạo, chỉ đạo, bắt đầu từ năm 2017, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị đã thí điểm thực hiện ký cam kết trách nhiệm của ban thường vụ và đồng chí bí thư cấp ủy cấp huyện với Ban Thường vụ Tỉnh ủy trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Nội dung cam kết đi sâu vào các nhiệm vụ trọng tâm, đầu việc cụ thể, có sự tương tác trách nhiệm giữa cấp trên và cấp dưới trong triển khai thực hiện để hướng tới mục tiêu chung.
Cùng với việc cam kết thực hiện các nội dung tự xây dựng và đăng ký với Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo mẫu hướng dẫn, mỗi cấp ủy và người đứng đầu các địa phương, đơn vị được “ đặt hàng” thêm từ 3- 4 nhiệm vụ trọng tâm. Những “đặt hàng” này gắn với các nhiệm vụ cụ thể mà địa phương phải phấn đấu thực hiện để tạo đột phá trong phát triển kinh tế-xã hội (như xây dựng các mô hình trong sản xuất nông nghiệp...) hoặc khắc phục các hạn chế (như công tác phát triển đảng, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo...). Qua thực hiện thí điểm cam kết đối với 10 huyện, thị, thành ủy trong năm 2017, kết quả có thể đo lường, “đong đếm” được là các đơn vị cấp huyện đều thử nghiệm thành công các mô hình mới, đem lại hiệu quả trong phát triển kinh tế-xã hội; các khuyết điểm, hạn chế đã chỉ ra trong kiểm điểm năm trước thì năm sau phần lớn đã được sửa chữa, khắc phục. Từ những kết quả rõ nét đó, năm 2018, Ban Thường vụ Tỉnh ủy thống nhất cao mở rộng đối tượng ký cam kết đến người đứng đầu tất cả các sở, ban, ngành cấp tỉnh, với 61 đầu mối. Việc tất cả các sở, ban, ngành cấp tỉnh và ban thường vụ cấp huyện cùng thực hiện ký cam kết với Ban Thường vụ Tỉnh ủy được nhìn nhận như là khởi xướng một “dàn đồng ca”, bởi các ngành, các địa phương có mối quan hệ với nhau trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và việc ký cam kết với Ban Thường vụ Tỉnh ủy đòi hỏi tính đồng loạt, cùng nhau hưởng ứng và hành động, không dừng lại ở phát động, dưới sự chỉ đạo của “nhạc trưởng” là Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Bám sát các nội dung cam kết, các địa phương, đơn vị đã chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện, ban hành văn bản cụ thể hóa và phân công thực hiện nhiệm vụ được giao. Tổ chức quán triệt các nội dung cam kết đến cán bộ, đảng viên, đưa các nội dung cam kết vào chương trình công tác năm; phân công nhiệm vụ cụ thể trong tập thể cấp ủy, lãnh đạo, các phòng, ban liên quan để chỉ đạo, phối hợp thực hiện với quyết tâm chính trị cao, xác định lộ trình và thời gian hoàn thành. Cam Lộ, Triệu Phong là những địa phương đã công khai nội dung cam kết của đồng chí bí thư cấp ủy đến tận chi bộ để cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia giám sát. 10/10 huyện, thị, thành ủy trong tỉnh đã tổ chức ký cam kết trách nhiệm của ban thường vụ và người đứng đầu cấp ủy các xã, phường, thị trấn, người đứng đầu Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội, các Ban Đảng, văn phòng Huyện ủy, Trung tâm BDCT huyện với Ban Thường vụ Huyện ủy; chỉ đạo đảng ủy các xã, phường, thị trấn tổ chức ký cam kết trách nhiệm của chi bộ và bí thư chi bộ thôn với đảng ủy xã; chỉ đạo UBND huyện tổ chức ký cam kết trách nhiệm của người đứng đầu các phòng, ban chuyên môn của UBND huyện. Một số đơn vị như Sở Công thương, Sở Giao thông- Vận tải, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Văn phòng Tỉnh ủy... đã đưa nội dung cam kết với cấp trên vào trong Bản đăng ký và cam kết hằng năm của đảng viên (theo mẫu quy định tại Công văn 2952- CV/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương) để đến cuối năm lấy kết quả thực hiện các nội dung cam kết đã đăng ký làm căn cứ để bình xét phân loại đảng viên, công chức. Sự đồng thuận hưởng ứng đã tạo hiệu ứng tích cực trong toàn hệ thống chính trị theo phương châm: Cấp huyện căn cứ nhiệm vụ của cấp tỉnh; cấp xã căn cứ nhiệm vụ của cấp huyện; cấp thôn căn cứ nhiệm vụ của cấp xã; các phòng, ban, bộ phận và cán bộ, đảng viên căn cứ nhiệm vụ của chi bộ, cơ quan, đơn vị để kịp thời cụ thể hóa các phần việc cụ thể trong nhiệm vụ trọng tâm đó.
Các nhiệm vụ cam kết được xác định không phải là những nội dung mang tính định tính thường bắt đầu bằng những cụm từ như “tăng cường”, “ đẩy mạnh”, “nâng cao”, hay là những nhiệm vụ thường xuyên mà cấp ủy đương nhiên phải chỉ đạo thực hiện. Trên quan điểm rõ người, rõ việc, những vấn đề cam kết được đặt ra có tính định lượng trên tinh thần cụ thể hóa các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, cho ra kết quả cụ thể, “tai nghe mắt thấy” và đo đếm được sau khi hoàn thành, liên quan trực tiếp đến các chỉ tiêu, kế hoạch đề ra trong năm. Trong đó lĩnh vực kinh tế-xã hội tập trung vào công tác quản lý đất đai, phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, xây dựng nông thôn mới; đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, đô thị; đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án động lực mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã xác định; phát triển giáo dục- đào tạo, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm; đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch… Trong công tác xây dựng Đảng tập trung nhiệm vụ sắp xếp tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế theo Nghị quyết 18, 19 của BCH Trung ương Đảng khóa XII, phát triển đảng viên trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, xóa thôn bản “trắng” đảng viên; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo…, mà các địa phương, đơn vị phải thực hiện bằng cam kết trách nhiệm của người đứng đầu.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về phát triển kinh tế-xã hội rõ nét, hiệu quả
Qua thực hiện chủ trương cam kết trách nhiệm người đứng đầu đã lộ diện điểm mới trong phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng trong phát triển kinh tế- xã hội. Đảng không can thiệp sâu, chỉ đạo cụ thể chính quyền, cơ quan nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, không quyết định những vấn đề cụ thể thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước nhưng thông qua lãnh đạo, giao việc cho “con người của Đảng”, cấp ủy đảng cấp trên đã hướng ban thường vụ và người đứng đầu cấp ủy cấp dưới vào việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm hằng năm mà nghị quyết cấp ủy đã xác định.
Từ đặc điểm của Quảng Trị là địa phương có nền nông nghiệp đang giữ vai trò chủ đạo, bài toán nâng cao thu nhập cho người dân từ sản xuất nông nghiệp luôn là vấn đề trăn trở của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Ngay đầu nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết 04-NQ/TU về đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp gắn với thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, chỉ đạo xây dựng đề án “Phát triển một số cây trồng, con nuôi chủ lực có lợi thế cạnh tranh trên địa bàn tỉnh” để thúc đẩy phát triển sản xuất, kích cầu sản phẩm nông nghiệp chủ lực. Trên nền định hướng chung đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo và yêu cầu mỗi địa phương phải cam kết triển khai 3-5 mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch mỗi năm, đáp ứng yêu cầu “Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm” được xác định trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và được nghị quyết chuyên đề của cấp ủy cụ thể hóa. Với “đề bài” được giao trong Bản cam kết, lãnh đạo ngành Nông nghiệp và PTNT, ngành Khoa học và Công nghệ, các địa phương đã bắt tay vào cuộc, tập trung thực hiện quyết liệt việc chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, tạo phong trào, khí thế mới ở hầu hết các địa phương trong tỉnh. Khoảng thời gian từ năm 2017 đến nay đã ghi dấu ấn đậm nét trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao với việc hình thành nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả. Nhiều sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh đã được tổ chức liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ, được công bố chỉ dẫn địa lý, có chỗ đứng trên thị trường nội địa và xuất khẩu như gạo hữu cơ và các sản phẩm organic Quảng Trị, cà phê Arabica Khe Sanh, chè vằng La Vang, cà gai leo An Xuân, tiêu Cùa... Lần đầu tiên hồ tiêu Quảng Trị được xuất khẩu qua Mỹ và Pháp, là những sự kiện chưa từng có của nông nghiệp Quảng Trị.
Nếu như cuối năm 2016 có chưa đến 10 mô hình sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ thì đến nay trên địa bàn toàn tỉnh đã xây dựng được trên 100 mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Điển hình như mô hình hợp tác liên kết sản xuất lúa hữu cơ đã được triển khai trên diện tích 250 ha tại các huyện Triệu Phong, Gio Linh, Vĩnh Linh, Hải Lăng, Cam Lộ, cho ra đời thương hiệu gạo hữu cơ Quảng Trị, được đưa vào phân phối tại các chuỗi siêu thị lớn. Mô hình trồng gắn chế biến cây dược liệu ở Cam Lộ; mô hình trồng rau theo phương pháp thủy canh, trồng dưa lưới trong nhà kính, nhà màng tại các huyện Hải Lăng, Gio Linh, Vĩnh Linh khá thành công, tạo ra sản phẩm chất lượng, sạch và an toàn thực phẩm, được thị trường đón nhận. Cái được rõ nhất là tư duy sản xuất nông nghiệp có nhiều đổi mới; ruộng đồng được dồn điền đổi thửa để hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh, có sự tham gia của doanh nghiệp và hợp tác xã. Thu nhập người dân nông thôn tăng, người nông dân đã “có những bữa cơm ngon và thi nhau làm giàu”- một sự đổi thay rất đỗi bình dị nhưng giá trị hiện hữu đến tận người dân như có lần đồng chí Nguyễn Văn Hùng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị vui mừng phát biểu với báo giới. Với một tỉnh nông nghiệp là chủ đạo như Quảng Trị, những kết quả đạt được nêu trên rất có ý nghĩa, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có hiệu quả từ cam kết trách nhiệm người đứng đầu.
Các nội dung Ban Thường vụ Tỉnh ủy “đặt hàng” trong cam kết ký với cấp dưới có những nội dung là ý tưởng, gợi ý để phát huy sự sáng tạo, năng động của lãnh đạo các ngành, địa phương. Một khi ý tưởng của cấp trên được chuyển tải đến đúng địa chỉ và gắn với trách nhiệm cấp dưới thì sẽ làm bật dậy sự sáng tạo, đồng lòng hưởng ứng của cấp dưới. Phát triển năng lượng tái tạo tại Quảng Trị là một ví dụ. Ai cũng biết trong dải đất miền Trung, Quảng Trị “nổi danh” với đặc sản “gió Lào, cát trắng”. Từ thay đổi trong tư duy phát triển “ biến cái bất lợi thành tiềm năng”, biến nắng, gió thành điện năng, người đứng đầu và tập thể lãnh đạo ngành Công thương tỉnh đã cam kết với Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh phát triển các dự án năng lượng tái tạo, năng lượng sạch trên địa bàn. Tham mưu xây dựng và công khai quy hoạch phát triển điện gió, điện mặt trời tỉnh Quảng Trị, theo đó, quy hoạch phân vùng các khu vực tiềm năng phát triển, dự kiến rõ quy mô công suất, đất đai, phương án đấu nối vào hệ thống điện quốc gia..., tạo điều kiện rút ngắn thời gian tiếp cận dự án cho các nhà đầu tư. Kết quả đến nay, Quảng Trị là tỉnh đầu tiên từ Ninh Thuận trở ra có năng lượng điện gió hòa lưới điện quốc gia và một loạt dự án điện gió, điện mặt trời đang được triển khai, dự kiến cuối năm 2019 sẽ có 60MW điện gió và 49,5 MW điện mặt trời đi vào vận hành và đến năm 2025 tổng công suất nguồn điện từ năng lượng tái tạo trên địa bàn tỉnh sẽ lên đến 775 MW. Tính sơ qua cứ mỗi MW điện hằng năm đóng thuế GTGT 1 tỷ đồng thì số thu về cho ngân sách địa phương quả là không nhỏ. Thực hiện quyết liệt các nội dung cam kết, trong thời gian không dài nhưng ngành Công thương cũng đã tham mưu cho tỉnh rất nhiều đầu việc trọng tâm thuộc lĩnh vực được giao, làm cho bức tranh công nghiệp của tỉnh có nhiều điểm sáng đầy hy vọng.
Với việc lựa chọn các vấn đề đúng trong tham mưu, Ban Quản lý các Khu kinh tế tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố, nhất là các địa phương nằm trong Khu kinh tế Đông Nam tiếp tục hành động quyết liệt, đeo bám các mục tiêu đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, đạt được những kết quả rất đáng khích lệ trong khởi động các dự án động lực. Trong bối cảnh nguồn lực và thu ngân sách địa phương còn nhiều khó khăn, các ngành trong khối tài chính đã xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế phối hợp, nỗ lực đạt chỉ tiêu thu ngân sách đã đề ra, giảm dần tỷ lệ thụ hưởng ngân sách từ Trung ương. Hoạt động thương mại tiếp tục duy trì mức tăng trưởng. Các ngành kinh tế- kỹ thuật và các địa phương cũng đã tập trung tranh thủ các nguồn lực đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội với quyết tâm cao và theo quy hoạch, nhất là hệ thống giao thông đường bộ, giao thông nông thôn; đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm. Cải cách hành chính, xây dựng đô thị văn minh có nhiều điểm sáng. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao được chăm lo phát triển toàn diện; giải quyết việc làm, giảm nghèo, an sinh xã hội được thực hiện có hiệu quả, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, đời sống văn hóa tinh thần phong phú ở cả thành thị và nông thôn; nhiều lễ hội văn hóa truyền thống được tổ chức, có tác dụng quảng bá hình ảnh địa phương. Quan tâm giải quyết có hiệu quả vấn đề ô nhiễm môi trường. Những vấn đề nổi cộm, phức tạp về an ninh trật tự được xử lý tích cực, hiệu quả, không để phát sinh điểm nóng. Tiềm lực quốc phòng - an ninh được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an ninh tôn giáo được đảm bảo. Chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp ngày càng được nâng lên, hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm.
Tác giả: Nguyễn Thị Hải Yến
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Ý kiến bạn đọc