Dân đồng lòng, việc khó mấy cũng thành công

Chủ nhật - 18/08/2019 21:16 573 0
(QT) - Về vùng biển xã Triệu Lăng, tôi được nghe mọi người kể về ông Trần Xuân Quý ở Thôn 6, người tiên phong góp phần hình thành và phát triển bãi tắm Nhật Tân, biến vùng đất cát hoang hóa thành điểm dịch vụ nghỉ mát, tắm biển có tiếng ở Triệu Phong. Ông Quý cũng là người đầu tiên đưa con tôm thẻ chân trắng vào nuôi, đem lại hiệu quả kinh tế cao trên vùng cát, từ đó chuyển giao, nhân rộng ra cho người dân trên địa bàn cùng nuôi, cùng thoát khỏi đói nghèo và vươn lên làm giàu…
Ông Trần Xuân Quý tại chương trình doanh nhân Cựu chiến binh Việt Nam tri ân đồng đội  Ảnh NVCC
Ông Trần Xuân Quý tại chương trình doanh nhân Cựu chiến binh Việt Nam tri ân đồng đội Ảnh NVCC

Nói phải, người hay cãi... cũng nghe!

 

Không chỉ nghe mọi người kể, các đồng nghiệp của tôi cũng đã có nhiều bài viết tuyên dương ông Quý đi đầu trong phát triển kinh tế và năng nổ trong hoạt động xã hội. Vậy nhưng, trong thâm tâm, tôi vẫn ấp ủ những câu hỏi và muốn gặp để nghe trả lời tường tận rằng vì sao ông lại vận động được người dân nhanh chóng chấp nhận đền bù, giải phóng mặt bằng và góp sức để hình thành nên bãi tắm Nhật Tân khang trang như bây giờ. Lại nữa, làm thế nào để ông có thể thuyết phục được người dân quê vốn còn nhiều khó khăn đổ công sức, tiền của, đưa cho được con tôm thẻ chân trắng lạ lẫm vào nuôi trên vùng đất cát hoang hóa bao đời. Đối với người dân vùng biển nghèo khó, việc chuyển đổi quy trình sản xuất, tạo lập sinh kế là không hề dễ dàng bởi tính cam chịu, ngại khó, ngại tiếp cận với cái mới, ngại rủi ro, ngại đủ thứ... Đó là cả một quá trình thay đổi từ tư duy, nhận thức đến hành động cụ thể và cần có thời gian dài cân nhắc, lựa chọn. Hành trình nêu gương, làm trước, đi trước rồi lấy hiệu quả công việc mà vận động, thuyết phục là không hề dễ dàng, vậy mà ông Quý vẫn quyết tâm làm được, làm thành công, được người dân đồng lòng, ủng hộ, ghi nhận, làm theo.

 

Một buổi sáng yên lành nơi làng biển Triệu Lăng, ngồi trong căn nhà rộng rãi và có lẽ đẹp nhất trong vùng, tôi bắt đầu mường tượng ra sức thu hút của ông Quý qua từng cử chỉ đời thường, qua cách nói chuyện và sự tự tin vốn vẫn hay bắt gặp ở những người nhiều trải nghiệm, biết cách làm ăn, làm giàu và làm chủ công việc của mình. Không giấu được sự tò mò, tôi buột miệng hỏi ông Quý về bí quyết từ những “cuộc vận động lớn” có ý nghĩa bước ngoặt của người dân quê ông trong chuyển hướng làm ăn, từ chuyên bán mớ tôm, mớ cá, lật đật chạy chợ từng bữa đến mở mang dịch vụ ẩm thực, kết hợp tham quan, tắm biển. Rồi nữa, bao đời nay người dân Triệu Lăng đánh bắt, nuôi trồng thủy sản theo tập quán cũ, được chăng hay chớ. Một ngày ông Quý bắt tay vào cuộc, tận tụy thuyết phục mọi người phải đưa con tôm thẻ chân trắng vào nuôi, áp dụng mạnh mẽ khoa học kĩ thuật, tính toán đầu vào, đầu ra chi tiết sao cho thu lại hiệu quả cao nhất trên một đơn vị diện tích nuôi trồng. Có lẽ câu hỏi đã chạm đúng vào sự trăn trở, tâm huyết, nung nấu bấy lâu nay của ông Quý. Ông trầm ngâm hồi lâu rồi trả lời tôi thật ngắn gọn, dung dị:

 

- Bí quyết ư? Tôi không có bí quyết nào hết. Chỉ miệng nói tay làm, nói đi đôi với làm, làm cho dân thấy lợi ích thiết thực, dân tin rồi dân làm theo thôi.

 

Ông Quý nói thế thôi nhưng tôi biết, dân tin ông trước hết vì ông có một “lí lịch trích ngang” thắm đỏ. Sinh năm 1954, tròn 17 tuổi, khi quê hương chìm trong bom đạn giặc, ông xung phong vào bộ đội địa phương thuộc Huyện đội Triệu Phong, chiến đấu nơi phòng tuyến phía đông trong chiến dịch bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị năm 1972; bị thương, được xác nhận là thương binh hạng 4/4. Hòa bình trở lại, ông phục viên, làm cán bộ lương thực đến năm 1980 trở về quê Triệu Lăng, dựng căn nhà nhỏ gần bờ biển, lấy việc buôn bán hải sản làm kế sinh nhai.

 

 

Phó Chủ tịch UBND xã Triệu Lăng Đặng Quang Hải chia sẻ: “Ông Trần Xuân Quý là người có uy tín ở địa phương. Thông qua những việc làm đem lại lợi ích thiết thực cho người dân, ông Quý đã được bà con tin tưởng, gửi gắm niềm tin nên trong các cuộc vận động thi đua làm ăn, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo ở địa phương, ông Quý cũng góp tiếng nói quan trọng”.​

Cách nay chừng ba mươi năm, làn gió của công cuộc đổi mới đã bắt đầu tác động lên sản xuất, đời sống, nếp nghĩ, cách làm của đại đa số người dân. Nhiều địa phương rục rịch chuyển đổi, tận dụng thời cơ, tiềm năng, lợi thế để bứt phá, đi lên. Là người nhạy cảm với cái mới, ông Quý trăn trở khi thấy mảnh đất nơi mình đang sống vẫn chưa có sự dịch chuyển tích cực nào. Ngày lại ngày, người dân vẫn điềm tĩnh dong con thuyền nhỏ, đem theo vài vàng lưới đơn sơ, ra vài chục sải nước đánh bắt tôm cá. Cuộc sống an phận cứ kéo dài làm cho làng quê như bị bó buộc trong tư duy xưa cũ, giản đơn, chật hẹp. Thời gian rảnh rỗi, có dịp được đi tham quan khắp trong Nam, ngoài Bắc, ông Quý trở về nhà với bao ngổn ngang trong lòng. Vào các dịp trò chuyện thân tình với bà con chòm xóm, ông riết róng đặt ra câu hỏi: “Tại sao vùng biển Triệu Lăng cát mịn, sạch đẹp, thơ mộng không thua kém một số bãi biển trong dãi đất miền Trung này, vậy mà người dân ở đó tận dụng phát triển dịch vụ, du lịch, tắm biển, nghỉ dưỡng, thu được tiền tỉ, còn mình thì để hoang hóa?”. Nhiều dân làng “phản biện” lại ông rằng do người ta có điều kiện thuận lợi về giao thông, hạ tầng, dịch vụ, ẩm thực phục vụ du khách tắm biển là nghề truyền thống cha truyền con nối, bãi tắm của họ đã có “thương hiệu” nổi tiếng từ lâu đời, quê mình thì chỉ có một đoạn bờ biển hoang vu đó thôi, mần chi ra?

 

Ông Quý ôn tồn: “Răng không mần chi ra? Triệu Lăng chỉ cách thị xã Quảng Trị, nơi dân cư đô thị sinh sống có mức thu nhập cao, nhu cầu sử dụng dịch vụ nhiều chỉ mươi cây số. Đường từ Triệu Lăng đến thị xã Quảng Trị và các xã vùng đồng bằng Triệu Phong, Hải Lăng đã được kết nối, trải nhựa êm thuận. Khi cuộc sống được cải thiện, nhu cầu tắm biển, thưởng thức hải sản của người dân sẽ tăng lên. Hàng vạn người dân trong vùng là khách hàng tiềm năng của vùng biển Triệu Lăng. Bên cạnh đó, hằng năm có một lượng du khách hết sức đông đảo đến với Thành Cổ Quảng Trị. Ngoài tri ân các anh hùng liệt sĩ, du khách cũng có nhu cầu khám phá, tắm biển, nghỉ dưỡng và lúc đó, không nơi nào tiện lợi hơn là đến với bãi tắm của Triệu Lăng. Hải sản Triệu Lăng thì lại tươi ngon nức tiếng xưa nay rồi. Sắp tới, nếu kết nối được chuỗi tham quan Khu di tích Thành Cổ Quảng Trị, Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn, thưởng thức nem chợ Sãi, tắm biển Triệu Lăng… thì chắc chắn du khách sẽ có được sự trải nghiệm thú vị…

 

Bãi tắm Nhật Tân đang được đầu tư xây dựng theo hướng văn minh, sạch đẹpẢnh: ĐT

 

- Nhưng mở bãi tắm ra rồi thì mần răng bán buôn, dân mình chỉ quen “chặt to kho mặn”?

 

- Phải đi học, học cách chế biến, học cách mời khách, học cách đi đứng, nói năng, vén khéo. Mình có thể thua người ta ở sự chuyên nghiệp, nhưng mình thu hút khách bằng sự chân thành, mộc mạc, bằng sự tươi ngon của hải sản, bằng cái hoang sơ, trong lành của thiên nhiên…

 

- Thiệt không?

 

- Thiệt rứa chơ! Ông Quý phân tích: “Khi người dân hỏi “thiệt không?” có nghĩa là họ còn đang phân vân. Nhà tôi trước ở ngay sát bãi tắm Nhật Tân. Bờ cát dài phẳng lặng, sóng êm, nước theo bờ thoai thoải ra tận vài sải nước. Sau thời gian suy nghĩ, tôi mạnh dạn viết đơn xin UBND xã khai thác bãi tắm này. Cùng 12 cựu chiến binh, chúng tôi mang lều trại ra dựng ở bãi biển, chế biến hải sản mới đánh bắt và các món ăn khác phục vụ khách tắm biển. Sau đó, huyện bắt đầu có sự đầu tư hạ tầng, điện, nước, quy hoạch lại hàng quán theo hướng văn minh, sạch đẹp. Tôi lại tích cực vận động người dân tiến hành bàn giao mặt bằng, nhận đền bù, giải tỏa nhanh để sớm hình thành bãi tắm Nhật Tân như mọi người biết đến bây giờ…

 

- Còn chuyện con tôm thẻ chân trắng?, tôi hỏi.

 

- Thì cũng phải đi đây đi đó, tham quan, ghi chép, rút ra kinh nghiệm từ thực tế để về áp dụng tại địa phương. Mình làm trước, thấy hiệu quả, khi vận động dân, dân mới tin tưởng và làm theo- Ông Quý nói. Trong nuôi tôm hay gặp nhiều rủi ro, có thể là do dịch bệnh, nguồn nước không đảm bảo vệ sinh, thức ăn thiếu cân đối. Sau khi đi tìm hiểu quy trình nuôi tôm trở về, tôi tiến hành xây dựng hồ nuôi tôm có phủ bạt và đáy hồ hình chóp nón có van xả ở đáy. Lợi dụng máy sục khí, tôi bố trí hệ thống máy hợp lí tạo dòng chảy trong hồ để đưa các tạp chất, cặn bẩn về tích tụ giữa đáy hồ, từ đó xả van để đưa ra ngoài, làm cho hồ nuôi sạch sẽ, con tôm không bị bệnh. Nhờ cách làm này mà hồ nuôi tôm của tôi nhiều năm trúng mùa, thu nhập khá, năm cao nhất được 700 triệu đồng, ngoài ra còn tạo việc làm cho một số lao động trên địa bàn.

 

- Sau đó mô hình được nhân ra diện rộng?

 

- Mô hình kinh tế đem hiệu quả có sức thuyết phục mạnh mẽ lắm anh à- Ông Quý bộc bạch. Có hiệu quả, tự khắc người dân đến học tập và nhân rộng thôi. Chỉ tính riêng nuôi tôm thẻ chân trắng, năm 2018 toàn xã có tổng giá trị trên 53 tỉ đồng, lợi nhuận đạt trên 21 tỉ đồng. Tôi luôn nằm lòng phương châm nói đi đôi với làm. Nói được làm được. Người dân quê tôi tính tình mộc mạc, ăn sóng nói gió nên cũng hay có ý kiến phản biện. Nhưng mình cứ làm cho hiệu quả, nói cho trúng thì người dân sẽ làm theo mình, nói phải, người hay cãi… cũng nghe mà!

 

Sức lan tỏa của những mô hình kinh tế vì dân

 

Triệu Lăng có vùng bờ biển dài hơn 7 km, diện tích tự nhiên trên 1.200 ha, trong đó đất nông nghiệp gần 340 ha, đất nuôi trồng thủy sản 70 ha. Những năm qua, thực hiện chương trình hành động và kế hoạch của UBND xã về phát triển kinh tế đa dạng, người dân địa phương đã đầu tư, hình thành, mở rộng các mô hình chuyển đổi sinh kế như đánh bắt thủy sản, nuôi tôm thẻ và chế biến thủy sản. Địa phương cũng đã đẩy mạnh đào tạo chuyển đổi nghề cho ngư dân kết hợp với phát triển nuôi trồng, khai thác thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá; động viên ngư dân tiếp tục vươn khơi bám biển để sản xuất và bảo vệ chủ quyền biển, đảo quê hương. Phối hợp tuyên truyền, vận động người dân cải hoán tàu thuyền có công suất máy đảm bảo, chuyển đổi, mua sắm ngư lưới cụ đánh bắt có hiệu quả, phù hợp với ngư trường; xây dựng mô hình ươm nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát 2 giai đoạn, ứng dụng chế phẩm sinh học; xây dựng các mô hình sản xuất tập trung, khuyến khích các chủ nuôi tôm thực hiện chăm sóc và phòng trừ bệnh, áp dụng khoa học, kĩ thuật cho năng suất, thu nhập cao. Riêng nuôi tôm thẻ chân trắng, ban đầu từ sự vận động, chuyển giao mô hình của ông Quý, được sự tuyên truyền, vận động chuyển đổi sinh kế của lãnh đạo địa phương, nhiều người dân trong xã đã đầu tư xây dựng, tu bổ hệ thống dẫn nước vào nuôi, thoát nước thải sau khi sử dụng vừa thuận lợi trong sản xuất vừa đảm bảo vệ sinh môi trường. Nhiều người dân đã giàu lên từ việc nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát. Năm 2018, toàn xã có trên 60 ha diện tích nuôi tôm, số lượng giống thả là 11.500 vạn con, sản lượng thu hoạch 356,5 tấn, tổng giá trị đạt trên 53 tỉ đồng, giải quyết cho trên 300 lao động có việc làm ổn định tại chỗ.

 

Về sự phát triển của bãi tắm Nhật Tân, Phó Chủ tịch UBND xã Triệu Lăng Đặng Quang Hải cho biết: “Từ ý tưởng và sự khai mở đầu tiên của ông Quý, đến nay bãi tắm Nhật Tân đã nên vóc nên hài và là điểm đến của hàng nghìn du khách trong các mùa du lịch biển. Bãi tắm không chỉ giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho hàng trăm lao động làm dịch vụ tại chỗ và ngư dân chuyên đánh bắt, thu mua, cung cấp hải sản mà còn tạo điểm nhấn, cảnh quan du lịch cho vùng biển Triệu Lăng, góp phần xây dựng nông thôn mới giàu đẹp. Mới đây, căn cứ quyết định phê duyệt đấu giá lô quầy tại khu du lịch bãi tắm Nhật Tân, UBND xã phối hợp với đơn vị đấu giá tổ chức đấu giá 20 lô quầy. Hiện đã có hơn 10 hộ đầu tư xây dựng lại quán khang trang hơn để đưa vào kinh doanh ổn định. Có thể nói, hoạt động dịch vụ tại bãi tắm Nhật Tân đã cho thấy hiệu quả rõ nét, lượng khách về bãi tắm ngày một đông, trong dịp hè năm 2018, 2019, ước tính có khoảng 10.000 - 15.000 lượt người về nghỉ dưỡng, tắm biển tại bãi tắm Nhật Tân”…

 

Tôi ướm hỏi ông Quý, trọn một đời tận tụy với quê hương, có khi nào ông nhớ lại mình đã nhận được sự tôn vinh nào ấn tượng nhất, vì trên thực tế, các sự tôn vinh cũng là cách ghi nhận thuyết phục những cống hiến của cá nhân cho cộng đồng xã hội?. Ông Quý cười hiền, nụ cười của người khiêm nhường và tự tin. Tìm hiểu, tôi biết rằng, với những thành tích đạt được, ông Trần Xuân Quý nhiều lần được mời tham gia các hội nghị, đại hội thi đua, được nhận nhiều bằng khen, giấy khen. Năm 2010, ông Quý được tham gia Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ 8, tổ chức tại Hà Nội, được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen; dự hội nghị doanh nhân CCB tiêu biểu toàn quốc. Nhân sự kiện này ông đã ủng hộ 40 triệu đồng để tặng sổ tiết kiệm cho các Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Nhân kỉ niệm 70 năm Ngày Thương binh- Liệt sĩ, ông được mời tham dự hội nghị biểu dương người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng tiêu biểu năm 2017 của tỉnh Quảng Trị, được mời báo cáo tham luận và nhận bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh…

 

Chia tay ông Quý, người một thời là anh Bộ đội Cụ Hồ, thương binh hạng 4/4, nhưng ấn tượng để lại trong tôi là hình ảnh một lão nông làng biển miệng nói, chân chạy, tay làm, hết lòng vì cuộc sống của người dân quê mình. Việc gì có lợi cho dân thì gắng sức làm; nói đi đôi với làm; nói dân hiểu, làm dân tin; bao nhiêu lợi ích đều vì dân, dân đồng lòng, việc khó mấy cũng thành công… Ông Quý đã làm theo những điều tốt đẹp đó và ông cảm thấy vui mừng khi những điều tốt đẹp đó đã “đơm hoa kết trái”, trở thành hiện thực sống động trên quê hương Triệu Lăng của ông. Đó cũng gói gọn những lời căn dặn về công tác dân vận của Bác Hồ mà ông luôn ghi nhớ, làm theo. Minh triết dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh giản dị, sâu sắc và đã đi vào thực tiễn, phát huy hiệu quả trong đời sống xã hội, có sức thu hút, lan tỏa như vậy đó…

 

Đào Tâm Thanh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây