Hướng dẫn của Sở Y tế được xây dựng trên cơ sở các quy định của Chính phủ, Bộ Y tế và các kế hoạch của UBND tỉnh Quảng Trị, trong đó có Kế hoạch số 2609/KH-UBND ngày 29/5/2026 về tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân trên địa bàn tỉnh và Kế hoạch số 4226/KH-UBND ngày 26/8/2026 về đẩy nhanh tiến độ thực hiện nhiệm vụ này trong năm 2026.
Giám đốc Sở Y tế Diệp Thị Minh Quyết phát biểu tại buổi làm việc với UBND tỉnh và các sở, ngành, đơn vị liên quan về tình hình triển khai khám sức khỏe định kỳ cho người dân trên địa bàn tỉnh năm 2026
Theo hướng dẫn, người dân được phân thành 5 nhóm để tổ chức khám phù hợp với từng đối tượng. Nhóm 1 gồm người cao tuổi, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có công, người mắc bệnh mạn tính, người sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, xã đảo, đặc khu. Nhóm 2 là trẻ em trong cơ sở giáo dục mầm non, học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông; nhóm 3 là người lao động; nhóm 4 gồm các đối tượng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý; nhóm 5 là các đối tượng không thuộc 4 nhóm nêu trên.
Trong đó, Nhóm 1 được xác định là đối tượng ưu tiên, được UBND cấp xã tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất một lần mỗi năm. Đối với trẻ em, học sinh, các cơ sở giáo dục tiếp tục tổ chức kiểm tra sức khỏe đầu năm học theo quy định về công tác y tế trường học. Người lao động được người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và an toàn, vệ sinh lao động. Lực lượng công an, quân đội tiếp tục thực hiện khám sức khỏe định kỳ theo quy định của ngành. Đối với Nhóm 5, căn cứ khả năng cân đối ngân sách và các nguồn huy động hợp pháp, địa phương có thể tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí.
Điểm đáng chú ý trong hướng dẫn lần này là việc tổ chức khám được triển khai theo hướng linh hoạt, lồng ghép nhiều hoạt động chăm sóc sức khỏe hiện có. Hoạt động khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc có thể được phối hợp với khám bệnh nghề nghiệp, khám sức khỏe, kiểm tra sức khỏe đầu năm học hoặc khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, qua đó vừa tránh trùng lặp, vừa tận dụng hiệu quả nguồn lực y tế và từng bước hoàn thành việc tạo lập Sổ sức khỏe điện tử cho toàn bộ người dân.
Để bảo đảm việc tổ chức khám đúng đối tượng, đúng tiến độ, công tác rà soát, lập danh sách được đặc biệt chú trọng. Đối với Nhóm 1 và Nhóm 5, hằng tháng, trước ngày 10, cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh gửi dữ liệu những người đã khám bệnh, chữa bệnh BHYT cho Sở Y tế. Trên cơ sở dữ liệu này, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh phân tách danh sách theo từng xã, phường, đặc khu để địa phương đối chiếu, loại trừ các trường hợp thuộc nhóm người lao động, học sinh, sinh viên và xác định những người đã được khám cũng như những người chưa được khám. Qua đó, các địa phương có căn cứ ưu tiên tổ chức khám cho những người chưa được khám lần nào.
Cách làm này cho thấy vai trò quan trọng của dữ liệu BHYT trong quản lý, chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Việc kết nối, đối chiếu dữ liệu giúp hạn chế tình trạng bỏ sót đối tượng, khám trùng lặp, đồng thời tạo cơ sở để theo dõi tiến độ thực hiện tại từng địa phương. Đây cũng là một trong những nội dung thể hiện rõ yêu cầu tăng cường chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội.
Đối với trẻ em, học sinh, sinh viên, Sở Giáo dục và Đào tạo được đề nghị chỉ đạo các cơ sở giáo dục lập danh sách, xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí và bố trí lịch khám phù hợp với năm học. Các cơ sở giáo dục chủ động sử dụng nguồn kinh phí được giao và các nguồn hợp pháp khác để tổ chức kiểm tra sức khỏe đầu năm học. Đối với người lao động, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có trách nhiệm lập danh sách, bố trí kinh phí, lựa chọn cơ sở khám sức khỏe đủ điều kiện và thống nhất kế hoạch tổ chức khám.
Công tác truyền thông cũng được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận và vận động người dân chủ động tham gia. Các địa phương, đơn vị được yêu cầu tăng cường tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh cơ sở, cổng thông tin điện tử, mạng xã hội; đồng thời truyền thông trực tiếp tại điểm khám, trường học, doanh nghiệp và khu dân cư. Lịch khám, địa điểm tổ chức khám cần được thông báo công khai, rộng rãi để người dân biết, chủ động tham gia, bảo đảm tiến độ đề ra.
Về địa điểm, việc khám có thể thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc tổ chức theo hình thức khám lưu động, bảo đảm thuận tiện, an toàn, đầy đủ nhân lực, thiết bị và vật tư y tế. Trạm Y tế cấp xã được ưu tiên lựa chọn khi đáp ứng đủ điều kiện. Trường hợp chưa đủ điều kiện, Trạm Y tế có thể phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn để được hỗ trợ chuyên môn hoặc tổ chức khám lưu động. Đối với trường học, cơ sở giáo dục có thể phối hợp với Trạm Y tế hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện để thực hiện khám tại trường, phù hợp với kế hoạch năm học.
Nội dung khám sức khỏe được thực hiện theo quy định chuyên môn của Bộ Y tế, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Hoạt động khám sàng lọc được căn cứ các hướng dẫn về dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị và quản lý một số bệnh không lây nhiễm phổ biến tại tuyến y tế cơ sở, đồng thời lồng ghép với các chương trình y tế dự phòng, dân số để lựa chọn nội dung phù hợp.
Một nội dung có ý nghĩa lâu dài là toàn bộ dữ liệu khám sức khỏe của người dân được lập và quản lý bằng Hồ sơ sức khỏe điện tử. Các cơ sở khám sức khỏe có trách nhiệm nhập đầy đủ thông tin, kết quả khám vào biểu mẫu hoặc trực tiếp trên phần mềm hồ sơ sức khỏe điện tử. Dữ liệu sau khi được cập nhật sẽ được kết nối, liên thông theo quy định để phục vụ quản lý, chăm sóc sức khỏe và từng bước tích hợp trên ứng dụng VNeID. Việc thu thập, quản lý, chia sẻ dữ liệu phải bảo đảm các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin mạng và lưu trữ hồ sơ sức khỏe.
Kết quả khám không chỉ dừng lại ở việc phát hiện, đánh giá tình trạng sức khỏe tại thời điểm khám mà còn được tổng hợp, lập Sổ sức khỏe điện tử và liên thông với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành y tế, hệ thống thông tin giám định BHYT. Các cơ sở khám sức khỏe có trách nhiệm phát hiện sớm nguy cơ mắc bệnh, tư vấn và chuyển người dân đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp để được thăm khám, điều trị kịp thời.
Để theo dõi tiến độ, UBND cấp xã, các sở, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo theo quy định. Báo cáo tuần được gửi về Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh trước 14 giờ ngày thứ 6 hằng tuần; báo cáo tháng gửi trước ngày 12 hằng tháng để CDC tổng hợp báo cáo Sở Y tế. Hệ thống biểu mẫu được xây dựng theo từng nhóm đối tượng, đồng thời theo dõi cả số người được khám trong kỳ, số khám tích lũy và tỷ lệ thực hiện.
Đáng chú ý, báo cáo còn yêu cầu thống kê kết quả theo địa điểm khám như Trạm Y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác và khám lưu động; đồng thời theo dõi số lượng người đã được lập Sổ sức khỏe điện tử. Đây là cơ sở để đánh giá không chỉ độ bao phủ của hoạt động khám sức khỏe mà còn mức độ hoàn thiện dữ liệu sức khỏe điện tử của người dân trên địa bàn.
Việc Sở Y tế ban hành hướng dẫn chuyên môn thống nhất, đồng bộ từ rà soát đối tượng, tổ chức khám, cập nhật dữ liệu đến chế độ báo cáo sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện nhiệm vụ khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Qua đó, người dân, nhất là các nhóm đối tượng ưu tiên, có thêm cơ hội được phát hiện sớm các nguy cơ sức khỏe, tiếp cận dịch vụ y tế phù hợp và quản lý sức khỏe thường xuyên.
Đồng thời, việc gắn hoạt động khám sức khỏe với xây dựng, cập nhật Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID sẽ tạo nền tảng quan trọng cho quản lý sức khỏe người dân trên môi trường số, nâng cao hiệu quả kết nối, chia sẻ dữ liệu y tế và phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân ngày càng chủ động, liên tục và hiệu quả.
Tác giả: BHXH tỉnh (Phan Nhật Thành)
Nguồn tin: quangtri.baohiemxahoi.gov.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Ý kiến bạn đọc